KẾT LUẬN
Chúng ta đã tìm hiểu nhiều vấn đề cốt lõi của vũ trụ và sự sống. Nội dung chủ yếu của cuốn sách này không phải nhằm mục đích phổ biến những điều bí ẩn lâu đời đã biết. Nhưng qua đó có thể thấy rằng, thuyết vũ trụ đa chiều thực tại được đề xuất ở đây có thể trở thành chỗ dựa của khoa học - tôn giáo để khảo sát hàng loạt vấn đề cơ sở có liên quan đến nguồn gốc, các quá trình hình thành, tiến hoá và suy vong của vũ trụ nói chung và sự sống nói riêng. Như vậy, luận điểm đầu tiên cần được chú ý là vũ trụ bao gồm vô số chiều thực tại, trong đó chiều vật lý dày đặc nhất, còn chiều tâm thức - vô cùng tinh tế và phi cấu trúc.
Vấn đề cổ xưa mà con người đã và đang rất quan tâm là cội nguồn nguyên thuỷ của mọi sự vật. Các nhà thông thái đã nghĩ ra một đối tượng siêu phàm đóng vai trò “tạo hoá” và gán cho nó vô số khả năng siêu việt mà sớm muộn cũng gặp phải những hệ quả hết sức phi lý. Ngay ở giai đoạn đầu của thế kỷ 21 này, không chỉ các nhà tôn giáo mà cả các nhà khoa học lớn cũng không thể dứt bỏ khỏi dòng tư tưởng về khả năng hiện hữu một cái gì đó tựa như Thượng Đế, nhưng thực chất Ngài như thế nào thì chưa có ai dám khẳng định chắc chắn. Thuyết vũ trụ đa chiều thực tại cho một câu trả lời ngắn gọn và rõ ràng: đóng vai trò “tạo hoá” chính là bình diện tâm thức - lớp vật chất phi cấu trúc với những tính chất đặc biệt khác thường, nó là ranh giới vô hình vĩnh cửu mà mọi dạng trí tuệ không bao giờ có thể vượt qua.
Mặc dù sự hiện hữu bình diện tâm thức được suy ra từ định đề về tính đa chiều thực tại của vũ trụ, nhưng cũng có thể ngay từ đầu thừa nhận nó như một tiên đề, còn mọi thứ khác sẽ được diễn giải như các hệ quả. Cách này không tự nhiên và có phần phức tạp hơn. Như vậy, để làm cơ sở cho việc tìm hiểu vũ trụ nói chung và sự sống nói riêng cần phải thừa nhận một định đề hay một tiên đề liên quan đến cội nguồn nguyên thuỷ của vũ trụ. Đây là phương pháp luận vốn được sử dụng trong lĩnh vực vật lý.
Vai trò “tạo hoá” của bình diện tâm thức được thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản sau đây: cung cấp nguồn chất liệu vô tận và tạo nên động lực toàn năng mà từ đó đã và đang diễn ra mọi quá trình sinh thành và biến hoá vạn vật. Nói theo ngôn ngữ vật lý hiện đại, bình diện tâm thức chính là chân không lượng tử nguyên thuỷ của vũ trụ. Mọi cấu trúc vật chất vi mô và vĩ mô không thể được sinh ra từ hư không như một số nhà nghiên cứu giả định, tất cả chúng đều có nguồn gốc từ một đại dương vật chất phi cấu trúc vô tận và vĩnh cửu là bình diện tâm thức. Nói cách khác, mọi thứ tồn tại đều là vật chất ở dạng có cấu trúc hoặc phi cấu trúc.
Một trong những sức mạnh đóng vai trò động lực toàn năng của vũ trụ là “hiệu ứng tâm thức” phát sinh trong mối tương tác giữa các cấu trúc vật chất và bình diện tâm thức, kết quả là mọi sự vật ở mức độ này hay mức độ khác đều có biểu hiện “nhận biết” nhất định. Trên cơ sở phát hiện đầy bất ngờ này có thể lý giải thoả đáng nhiều hiện tượng trong các quá trình hình thành và tiến hoá của vũ trụ nói chung và sự sống nói riêng. Ở đây cần lưu ý rằng, các thuộc tính của thực tại như không gian, thời gian, ý thức... chỉ là những thể hiện tương đối của “hiệu ứng tâm thức”. Rõ ràng, chúng xuất hiện đồng thời với sự sinh thành vật chất có cấu trúc, tác động lên mọi sự vật và bị ảnh hưởng bởi chúng. Tất cả những thuộc tính đó sẽ trở nên hoàn toàn khác dưới nhãn quan của một vị Phật - con người có tâm thức cá nhân đồng nhất với tâm thức vũ trụ.
Cho đến nay vẫn chưa có cách tiếp cận đúng đắn tới bản chất và nguồn gốc sự sống vì các nhà nghiên cứu vẫn coi mọi biểu hiện “nhận biết” chỉ hiện hữu ở các thực thể sống và do chính chúng tạo ra. Nhưng từ thuyết vũ trụ đa chiều thực tại thu được những khía cạnh hoàn toàn khác. Theo đó, mọi cấu trúc vật chất tinh tế đều có biểu hiện “nhận biết” ở một mức độ nhất định, kể cả ý thức. Đặc biệt hơn, khả năng “nhận biết” của bất kỳ thực thể nào chỉ là kết quả tương tác giữa nó và bình diện tâm thức. Điều này dẫn đến kết luận thực sự có ý nghĩa: bản chất của sự sống chỉ là biểu hiện vượt trội thuộc tính “nhận biết” của các sản phẩm vật chất có cấu trúc trong mối quan hệ tương tác với bản thể của mọi sự vật là bình diện tâm thức.
Một trong những thách thức dai dẳng nhất thu hút sự chú ý của loài người từ thời cổ xưa đến nay là câu đố về khả năng tồn tại những sinh thể không nhìn thấy. Không thể tin cậy vào một câu trả lời khẳng định nếu chưa có một nền tảng vật chất và “tinh thần” cho sự tồn tại các dạng sống vô hình. Có thể nói, thuyết vũ trụ đa chiều thực tại là chỗ dựa chắc chắn để giải đáp vấn đề hóc búa trên đây.
Xuất phát từ chỗ vũ trụ bao gồm nhiều lớp vật chất khác biệt nhau về mức mật độ và dải tần số có thể rút ra kết luận rằng, sự tồn tại của toàn bộ vật chất vũ trụ tương tự như sự tồn tại của toàn bộ không gian sóng. Bởi vậy, mỗi lớp vật chất có vai trò tựa như một lớp sóng và tạo nên một chiều thực tại về mặt “nhận biết”. Hầu hết mọi người chưa thể nhận ra các chiều thực tại vô hình khác vì mức độ “nhận biết” của họ bị giới hạn ở bình diện vật lý. Khi được khai mở các giác quan đặc biệt, con người dễ dàng chứng kiến các thực thể sống ở những chiều thực tại năng lượng.
Để kết thúc cuốn sách nhỏ này không thể không nói tới các điểm đích mà sự tiến hoá của nền văn minh nhân loại có thể đạt đến. Đại sư Osho đã đưa ra ý tưởng sau đây: nếu loài người đi theo con đường thuần tuý khoa học - công nghệ thì những thế hệ con người tựa rôbơt sẽ phát sinh; ngược lại, nếu con đường tiến bộ mang tính thuần tuý tâm linh thì sẽ xuất hiện thế hệ các vị Phật. Rất có thể. nhân loại trên Trái Đất sẽ tiến bước theo con đường trung dung.
THUẬT NGỮ
Băng sóng - một hoặc nhiều dải sóng với các tần số kế tiếp nhau.
Băng thực tại - một hoặc nhiều chiều thực tại kế tiếp nhau.
Bình diện tâm thức - bình diện vật chất phi cấu trúc.
Bình diện vật chất - lớp vật chất của vũ trụ, bao gồm những “nguyên tử” mà mức mật độ (hay dải tần số) của nó khác biệt căn bản so với các lớp khác.
Bình diện vật lý - lớp vật chất hữu hình với thành tố nền tảng là các nguyên tử vật lý.
Chân không lượng tử - không gian chứa đầy các hạt vật chất, xuất hiện và biến mất theo những chu kỳ cực ngắn.
Chân không lượng tử nguyên thuỷ - tên gọi khác của bình diện tâm thức.
Chiều thực tại - một dạng bình diện vật chất.
Chiều thực tại năng lượng - dạng bình diện vật chất ở thể vô hình đối với các giác quan vật lý của con người.
Chiều thực tại phi vật lý - như chiều thực tại năng lượng.
Chiều thực tại vật lý - như bình diện vật lý.
Chứng ngộ tâm linh - như chứng ngộ vô ngã.
Chứng ngộ vô ngã (thành Phật) - trạng thái nội tâm của con người khi tràn đầy nhận biết và tâm trí hoàn toàn tĩnh lặng (theo Phật Thích Ca, đó là “sự chấm dứt đau khổ”, còn theo bậc thầy tâm linh Eckhart Tolle, đó là “thu được nhận biết về hiện hữu và trú ngụ trong cảm giác sáng tỏ”).
Cơ học lượng tử - lý thuyết mô tả vật chất và bức xạ ở thang bậc hạ nguyên tử, theo đó các hạt hạ nguyên tử có thuộc tính vừa là sóng vừa là hạt và chúng chỉ có thể được mô tả bằng phương tiện xác suất.
Cơ thể năng lượng - phần cơ thể con người được cấu tạo từ vật chất của một bình diện năng lượng xác định.
Cái Một - vũ trụ tổng thể, bao gồm mọi thứ tồn tại.
Con lắc Foucault - đây là con lắc đặc biệt do nhà vật lý Foucault (người Pháp) thiết lập vào năm 1851, nó cho thấy tất cả vật chất có cấu trúc của vũ trụ được liên kết với nhau thành một chỉnh thể.
Con trỏ tâm thức - sự định hướng tự ý thức của một cá nhân tại thân vật lý hay các cơ thể năng lượng của mình.
Đại ngã - cái “ta” của vũ trụ tổng thể.
Đạo - khái niệm bí ẩn có mặt trong tác phẩm Đạo Đức Kinh của Lão Tử, nhằm trỏ tới một đối tượng siêu việt đóng vai trò nguồn gốc và bản thể của mọi sự vật trong vũ trụ.
Định đề về vũ trụ - được đề xuất trong cuốn sách này, nó thừa nhận vũ trụ có vô số bình diện vật chất.
Định lý bất toàn - còn được gọi là “định lý về tính không đầy đủ”, do nhà toán học Kurt Godel (người Áo) đưa ra năm 1931, nó cho biết rằng toàn bộ hệ thống số học chứa những mệnh đề toán học không xác định, tức là không thể chứng minh và cũng không thể bác bỏ chúng nếu chỉ dựa trên các tiên đề có mặt trong hệ thống đó.
Định lý Bell - do nhà toán học J. S. Bell đưa ra năm 1964, nó cho biết rằng các hạt hạ nguyên tử liên kết với nhau một cách phi thời gian và phi không gian.
Giác quan đặc biệt - cho phép nhận biết được các sự vật của một hoặc nhiều chiều thực tại năng lượng.
Giác quan phi vật lý - như giác quan đặc biệt.
Giác quan vật lý - cho phép nhận biết được các sự vật của bình diện vật lý.
Hiệu ứng tâm thức - được đề cập đến trong cuốn sách này, nó nói lên rằng kết quả tương tác giữa những cấu trúc vật chất với bình diện tâm thức được thể hiện qua các hình thái “nhận biết” từ dạng đơn giản nhất như phản ứng, cảm ứng... cho đến dạng tinh tế như ý thức, tình yêu, sáng tạo...
Khoa học tâm linh - lĩnh vực nghiên cứu về lý thuyết và thực nghiệm, có quan hệ đến nền tảng của sự tồn tại nói chung, kể cả các bình diện vật chất phi vật lý.
Không gian - thuộc tính của một cấu trúc vật chất đặc trưng về quảng tính như dài ngắn, rộng hẹp, cao thấp v.v...
Linh hồn - một trong ba thành phần tạo nên một cá nhân cụ thể (hai thành phần khác là thân vật lý và tâm trí), nó thực chất là phần vật chất phi cấu trúc bị giới hạn bởi hệ thống thân vật lý và các cơ thể năng lượng của người đó.
Luật bất toàn - được đề cập đến trong cuốn sách này, nó cho biết rằng chức năng cơ bản của một đối tượng độc lập nào đó không thể được thực hiện với chính nó hoặc một phần của nó (ví dụ, dao sắc không gọt được chuôi).
Mật độ (vật chất) - Số lượng các “nguyên tử” chứa trong một đơn vị thể tích thuộc một chiều thực tại.
Mô hình tâm linh về con người - được đề cập đến trong cuốn sách này, nó cho biết rằng mỗi người có ba yếu tố cấu thành là thân vật lý, tâm trí và tâm thức (linh hồn).
Nguyên tử - các cấu trúc vật chất đóng vai trò thành tố (nền tảng) của một bình diện vật chất xác định.
Nghịch lý EPR - do ba nhà khoa học là Einstein, Podolsky và Rosen đưa ra năm 1930, nó cho thấy rằng các hạt hạ nguyên tử có thể có liên hệ mật thiết với nhau thông qua một tương tác bí ẩn phi không gian và phi thời gian.
Niết Bàn - khái niệm bí ẩn có mặt trong giáo lý đạo Phật, nhằm trỏ tới một chiều thực tại siêu việt mà mỗi cá nhân có thể tự mình trải nghiệm nhất thời hoặc lâu dài, nhưng không thể tìm hiểu và mô tả trực tiếp bằng tâm trí.
Phật - cá nhân đã chứng ngộ vô ngã, người có ý thức tràn đầy trong mọi thời điểm của đời sống, kể cả khi ngủ.
Sinh thể năng lượng - được sinh thành từ vật chất của các chiều thực tại năng lượng, nó là vô hình đối với các giác quan vật lý của con người.
Sinh thể sóng - một dạng sinh thể năng lượng, vô hình đối với các giác quan đặc biệt của con người.
Sóng tâm thức - thể hiện của vật chất phi cấu trúc.
Tâm thức - vật chất phi cấu trúc (nghĩa ở đây hoàn toàn khác với nghĩa thường được quan niệm, coi “tâm thức” là tình cảm và nhận thức của con người).
Tâm trí - bao gồm các tiến trình trí tuệ và cảm xúc của con người.
Thân vật lý - phần cơ thể con người được cấu tạo từ vật chất của bình diện vật lý (còn được gọi là “thể xác”).
Thiền zen - còn được gọi là “thiền tâm linh”, thực hành chứng kiến (phi nỗ lực) một phần hoặc toàn bộ bản thân người thiền.
Thời gian - thuộc tính của các quá trình vật chất diễn ra theo một trật tự nhất định.
Thuyết vũ trụ đa chiều thực tại - được đưa ra trong cuốn sách này, nó thừa nhận rằng vũ trụ có vô số chiều thực tại (bình diện vật chất), trong đó chiều vật lý dày đặc nhất, còn chiều tâm thức chứa vật chất phi cấu trúc với nhiều tính chất siêu việt.
Thượng Đế - khái niệm bí ẩn có mặt trong các kinh sách của nhiều tôn giáo khác nhau, nhằm trỏ tới một đối tượng siêu phàm đóng vai trò kiến tạo và duy trì vũ trụ tổng thể, trong đó có sự sống.
Tiểu ngã - cái “tôi” của một cá nhân.
Trực giác - khả năng của con người nhận thức các sự vật một cách trực tiếp, không cần suy luận bằng lý trí.
Vật chất có cấu trúc - dạng vật chất chứa các phần tử có thể bị phân rã.
Vật chất phi cấu trúc - dạng vật chất chứa tất cả các phần tử không thể bị phân rã.
Vi lượng tin chung - vi cấu trúc năng lượng chứa thông tin tổng thể về các sự kiện đã xảy ra.
Vi lượng tin riêng - vi cấu trúc năng lượng chứa thông tin riêng lẻ về các sự kiện đã xảy ra.
Vô ngã - cái “tôi” biến mất.
Vụ nổ lớn - một lý thuyết của vũ trụ học, theo đó vũ trụ nguyên thuỷ cực kỳ nóng, đặc và đã bắt đầu sự tồn tại của nó bởi một vụ nổ lớn, xảy ra vào khoảng 13,7 tỷ năm trước đây tại một điểm của không gian.
Xuất thần - khả năng của con người, do bẩm sinh hoặc tập luyện, có thể tự tách rời hệ thống các cơ thể năng lượng của mình khỏi thân vật lý hoặc cơ thể năng lượng kề cận.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Barbara Ann Brennan Bàn tay ánh sáng. Lê Trọng Bổng dịch. NXB Văn hoá thông tin, 1997, 332 tr.
2. Nguyễn Hoàng Phương Tích hợp đa văn hoá Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996, 1184 tr.
3. William Buhlman Phiêu lưu ngoài cơ thể. Ngô Trung Việt dịch. Tài liệu nội bộ, Hà Nội, 1996, 282 tr.
4. S. Hawking Lược sử thời gian - từ Vụ nổ lớn đến các lỗ đen. Cao Chi và Phạm Văn Thiều dịch. NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1995, 280 tr.
5. S. Hawking Vũ trụ trong một hạt dẻ. Nguyễn Văn Cừ và Phạm Lê Mạnh Đức dịch. NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2003, 208 tr.
6. G. Bogdanov, I. Bogdanov... Bên ngoài khoa học. Lê Diên và những người khác dịch. NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2004, 214 tr.
7. Trịnh Xuân Thuận Giai điệu bí ẩn và con người đã tạo ra vũ trụ. Phạm Văn Thiều dịch. NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 2000, 384 tr.
8. Matthieu Ricard, Trịnh Xuân Thuận Cái vô hạn trong lòng bàn tay. Phạm Văn Thiều và Ngô Vũ dịch. NXB Trẻ - báo Tia Sáng. Hà Nội, 2005, 478 tr.
9. Những nhà tiên tri thế giới. Lê Nguyễn và Lê Xuân Sơn dịch. NXB Văn hoá thông tin, 2000, 320 tr.
10. Nguyễn Tường Bách Lưới trời ai dệt? NXB Trẻ, 2004, 375 tr.
11. E-rơ-nơ Mun-da-sep Chúng ta thoát thai từ đâu? Hoàng Giang dịch. NXB Thế giới, Hà Nội, 2002, 531 tr.
12. Dominique Folscheid Các triết thuyết lớn. Huyền Giang dịch, NXB Thế giới, Hà Nội, 2002, 160 tr.
13. Nguyễn Ngọc Giao Vũ trụ được hình thành như thế nào? NXB Giáo dục (tái bản lần thứ sáu), 2003, 87 tr.
14. Hồ Huỳnh Thuỳ Dương Sinh học phân tử. NXB Giáo dục (tái bản lần thứ hai), 2003, 303 tr.
15. Tạp chí Thế Giới Mới.
16. Tạp chí Thế Giới Trong Ta.
17. Đại đức Narada Thera Đức Phật và Phật pháp. Phạm Kim Khánh dịch. Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, 1991, 622 tr.
18. Hoà thượng Thích Thanh Tứ Thiền sư Việt Nam. NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1999, 606 tr.
19. Hoà thượng Thích Thanh Tứ Thiền đốn ngộ. NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1999, 240 tr.
20. Thế giới Phật giáo: Mười đại đệ tử Phật. NXB Văn hoá thông tin, 2002, 256 tr.
21. Maharaj Charan Singh Con đường. Radha Soami Satsang Beas, Punjab, India.
22. Phúc âm của Chúa cứu thế Giê-su - bốn sách Phúc âm của Thánh kinh Tân ước. American Bible Society, New York, 1993, 225 tr.
23. Lão Tử Đạo Đức Kinh. Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch và bình chú. NXB Văn học, Hà Nội, 2001, 360 tr.
24. Yoga Tây Tạng. Hải Ân biên soạn. Nhà NXB Thanh Niên, 1999, 107 tr.
25. Jâja Yoga: Triết học và khí công Ấn Độ. Hải Ân dịch. Nhà NXB Mũi Cà Mau, 1997, 108 tr.
26. Nguyễn Thị Hai Thể phách con người. 1958.
27. Nguyễn Thị Hai Thể vía con người. 1958.
28. Osho Ngón tay chỉ trăng. Tài liệu nội bộ, 1999, 542 tr.
29. Osho Kinh Kim Cương. Tài liệu nội bộ, 1998, 307 tr.
30. Osho Thiền zen - Tự do đầu tiên và cuối cùng. Tài liệu nội bộ, 1997, 432 tr.
31. Osho Đạo: Ba kho báu - Tập 1. Tài liệu nội bộ, 2001, 288 tr.
32. Eckhart Tolle Quyền năng của bây giờ - Hướng dẫn tới chứng ngộ tâm linh. Tài liệu nội bộ, 2004, 274 tr.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Phần 1: THUYẾT VŨ TRỤ ĐA CHIỀU THỰC TẠI
Nhận xét chung . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Các khái niệm và định nghĩa . . . . . . . . . . . . . . .
Định đề về vũ trụ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Các hệ quả . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Các ý tưởng về vũ trụ đa chiều . . . . . . . . . . . . .
Khái niệm về khoa học tâm linh . . . . . . . . . . . .
Phần 2: SỰ HÌNH THÀNH BÌNH DIỆN VẬT LÝ . . .
Các quan niệm về vũ trụ . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Kịch bản Vụ nổ lớn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Vũ trụ trước thời điểm 10-43 giây . . . . . . . . . . .
Động lực toàn năng của vũ trụ . . . . . . . . . . . .
Các quá trình co - giãn cục bộ? . . . . . . . . . . . . .
Phần 3: NGUỒN GỐC SỰ SỐNG . . . . . . . . . . . .
Sự sống là một bí ẩn vĩ đại . . . . . . . . . . . . . . .
Sự sống phát sinh từ đâu? . . . . . . . . . . . . . . . . .
Bản chất của sự sống . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Quá trình hình thành sự sống . . . . . . . . . . . . . .
Phần 4: BẢN THỂ CON NGƯỜI . . . . . . . . . . . .
Nhận xét chung . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Cấu trúc năng lượng của con người . . . . . . . .
Mô hình tâm linh về con người . . . . . . . . . . . .
Vũ trụ là một tổng thể sống? . . . . . . . . . . . . . .
Phần 5: CHỨNG NGỘ VÔ NGÃ . . . . . . . . . . . . .
Vị trí tiến hoá của con người . . . . . . . . . . . . .
Cơ chế chứng ngộ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Những con đường chứng ngộ . . . . . . . . . . . . .
Phần 6: MINH CHỨNG VỀ BÌNH DIỆN TÂM THỨC
Mối liên kết siêu sáng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Con lắc Foucault . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Nghịch lý EPR . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Tính bất toàn của một hệ thống . . . . . . . . . . . .
Niết Bàn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Thượng Đế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Đạo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Bí ẩn tối thượng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Phần 7: CÁC SINH THỂ NĂNG LƯỢNG . . . . .
Sự sống là gì? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Tồn tại sự sống sau cái chết? . . . . . . . . . . . . .
Các sinh thể có hình bóng . . . . . . . . . . . . . . .
Các sinh thể sóng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Giới hạn của trí tuệ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Phần 8: CÁC BÍ ẨN TÔN GIÁO . . . . . . . . . . . .
Nền tảng của các tôn giáo . . . . . . . . . . . . . . .
Các mức chứng ngộ vô ngã . . . . . . . . . . . . .
Những câu nói bí ẩn . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Phần 9: CÁC THUỘC TÍNH CỦA THỰC TẠI
Các quan niệm về không gian, thời gian . . .
Mối liên hệ giữa không gian, thời gian và ý thức
Tính tuyệt đối của thực tại vật lý . . . . . . . . . . .
Khái niệm về “băng thực tại” . . . . . . . . . . . . . .
Phần 10: CÁC BÍ ẨN PHI VẬT LÝ . . . . . . . . . . .
Các giác quan đặc biệt . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Đọc thông tin về người khác . . . . . . . . . . . . . .
Suy nghĩ và trực giác . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Tình yêu là gì? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
THUẬT NGỮ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Những điểm chính của nội dung cuốn sách
“VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC TÂM LINH”
Nguyễn Hiếu
Chúng tôi cho rằng, cuốn sách đã được viết ra trên cơ sở tham khảo rất nhiều tài liệu, đặc biệt là các tư liệu tôn giáo từ các vị Phật mới xuất hiện trong những thập niên gần đây. Phần cốt lõi của cuốn sách là “thuyết vũ trụ đa chiều thực tại”. Nội dung của cuốn sách nhằm thể hiện những điểm chính sau đây:
1) Vũ trụ tổng thể gồm vô số bình diện hay lớp vật chất có cấu trúc, chúng thâm nhập lẫn nhau trong không gian như sóng, trong đó bình diện vật lý “đậm đặc” hơn cả.
2) Cội nguồn nguyên thuỷ của vũ trụ là bình diện vật chất phi cấu trúc (bình diện tâm thức), nó có nhiều tính chất siêu việt mà các tài liệu tôn giáo đã từng nói đến.
3) Sự hình thành các cấu trúc vật chất kéo theo hiệu ứng tâm thức, được thể hiện qua “nhận biết” (như phản ứng, cảm ứng, ý thức, tình yêu, sáng tạo v.v...) do tác động của sóng-vật chất phi cấu trúc (“sóng tâm thức”) lên cấu trúc vật chất. Nói cách khác, mọi cấu trúc vật chất, từ vĩ mô như Trái Đất hay các hành tinh khác và vi mô như lượng tử ánh sáng hay các vi hạt, đều có khả năng “nhận biết” ở một mức nhất định.
4) Sự sống tại các bình diện vật chất năng lượng (phi vật lý, vô hình) có khả năng xuất hiện theo nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào cấu trúc vật chất được tạo ra.
5) Vũ trụ nói chung và sự sống nói riêng đã phát sinh và đang tiến hoá trên nền tảng của bình diện tâm thức và mối tương tác của nó với các cấu trúc vật chất; không cần thiết sự tồn tại của một đấng siêu phàm nào đó như các tôn giáo và nhiều người đã giả định.
6) Con người và các loài vật khác trên Trái Đất là những sinh thể đa chiều thực tại, tức là cơ thể được cấu tạo từ nguyên liệu thuộc một số bình diện vật chất xác định. Vì “băng thực tại” của con người chỉ sáng tỏ ở bình diện vật lý, nên hầu hết chúng ta mù và điếc đối với những chiều thực tại năng lượng.
7) Đích tiến hoá cuối cùng của con người là trở thành vị Phật. Đó là một người có thể đạt tới tâm thức cá nhân đồng nhất với tâm thức vũ trụ, có trạng thái ý thức hoàn toàn sáng tỏ tại bất kỳ thời điểm nào (kể cả khi ngủ), luôn tràn đầy phúc lạc và tình thương yêu vô điều kiện.
N.H. (Sưu tâm và giới thiệu)