Trang chủ|Liên kết|Video - Audio
Tin tức - Bài viết
Tiêu điểm
HIỆN TƯỢNG THƠ VĂN LINH CẢM
NHÂN LOẠI ĐANG ĐI ĐẾN DIỆT VONG - Lời kêu gọi của các nhà ngoại cảm
Mô hình ba yếu tố về con người
TIÊN ĐOÁN VỀ XUẤT HIỆN THẾ KỶ TÂM LINH
Lý thuyết về vũ trụ đa chiều thực tại
Thông điệp từ bộ lạc Kogi
Mạt kiếp - Huyền thoại hay sự thật?
THẾ GIỚI TÂM LINH
ĐỊNH LUẬT THIÊN CƠ
THÁNH THẦN CẢNH BÁO
MẪU GỌI CÁC CON
ĐÒN CẢNH CÁO 2006
NGUYỄN TRÃI ỨNG LINH
LỜI THÁNH GIÓNG
Triết lý của Eckharrt Tolle
LỜI MẪU ÂU CƠ - 4
BÍ ẨN VỀ KINH KIM CƯƠNG
KINH THIÊN LÔI
LỜI MẪU ÂU CƠ - 3
MẪU TRUYỀN LONG HỘI
LỜI MẪU ÂU CƠ - 5
LỜI NGỌC PHẬT - 1
LỜI MẪU ÂU CƠ - 6
LỜI MẪU ÂU CƠ - 7
LỜI NGỌC PHẬT - 2
LỜI MẪU ÂU CƠ - 8
VĂN LỆNH CHỈ
LỜI VÀNG TIẾNG NGỌC
KHUYÊN TU KÍP KỲ
KHUYÊN NGƯỜI TU THÂN
GIẢ THUYẾT VÊ KHÔNG GIAN 5 CHIỀU
Phản biện giả thuyết "Không gian 5 chiều"
Xem:
blog counter
 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ 10
(Gửi vào: 6/15/2008 10:18:53 AM)
Có nhiều hiện tượng rất quen thuộc với đời sống con người nhưng dường như không thể lý giải được từ những hiểu biết của thế giới vật lý (hữu hình). Trong khi đó, dưới góc độ của thuyết đa chiều thực tại có thể làm sáng tỏ các bí ẩn đã tồn tại bao đời nay...

 

Phần thứ mười

MỘT SỐ BÍ ẨN

PHI VẬT

 

       Từ “phi vật lý” được dùng ở đây để chỉ tất cả những gì có liên quan đến các chiều thực tại năng lượng (vô hình). Mặc dù chúng ta đang sống ở thế kỷ 21 với nhiều thành tựu khoa học - công nghệ vĩ đại, nhưng vẫn tồn tại vô số hiện tượng phi vật lý chưa có lời giải đáp thoả đáng. Trong phần này chúng ta sẽ áp dụng thuyết vũ trụ đa chiều và những kết quả rút ra từ đó để lý giải một số khía cạnh bí ẩn thuộc các chiều thực tại năng lượng.

        Các giác quan đặc biệt

       Chúng ta thường nói đến năm giác quan vật lý của con người là thị giác (nhận biết hình ảnh), thính giác (nhận biết âm thanh), xúc giác (cảm nhận về hình thể và trạng thái), vị giác (cảm nhận về vị) và khứu giác (cảm nhận về mùi). Tất cả các giác quan đó chủ yếu tiếp nhận thông tin từ bên ngoài thuộc bình diện vật lý. Nhưng tồn tại một giác quan nội tâm rất quan trọng mà ít khi được chú ý tới, đó là giác quan nhận biết những gì xảy ra bên trong con người về cảm xúc và trí tuệ. Ở đây tạm gọi nó là “tâm giác”. Rõ ràng, nhờ có tâm giác mà con người nhận biết được cảm xúc và ý nghĩ của mình phát sinh từ các chiều năng lượng.

       Như trong phần 4 đã chỉ ra, ít nhất con người có bảy cơ thể năng lượng tương ứng với bảy chiều thực tại phi vật lý. Có cơ sở để tin rằng, mọi cơ thể của con người (vật lý hoặc năng lượng) đều chứa một hệ thống giác quan thích hợp để nhận biết chiều thực tại tương ứng. Các nhà thực hành tâm linh từ lâu đã trải nghiệm điều đó.

       Thực vậy, có khá nhiều tư liệu nói về các giác quan đặc biệt ở con người. Theo Cổ thư của Tây Tạng, tồn tại năm cách khai mở năng khiếu thần thông ở con người: tự nhiên, dược chất, thần chú, tu luyện và thiền định.

       Năng khiếu tự nhiên về giác quan đặc biệt có thể xuất hiện sau khi ra đời một thời gian hoặc do một biến cố nào đó từ bệnh tật, tai nạn... Cách dược chất dựa trên việc sử dụng những chất thuốc kích thích để tác động lên hệ thần kinh giao cảm và khai mở các luân xa. Những chất như vậy được chưng cất bằng phương pháp bí mật, có thể gây nguy hiểm nếu chế tạo không đúng. Cách thần chú sử dụng những câu nói chứa đựng các âm thanh đặc biệt, được phát âm lặp đi lặp lại nhiều lần. Việc tu luyện có nhiều dạng khác nhau, từ sự khổ hạnh để tăng cường ý chí cho đến các kiểu tập luyện kỳ lạ nhằm kiểm soát thể xác và tâm trí. Cách thiền định bao gồm hai khía cạnh là định trí và suy ngẫm, đây là cách khó nhất nhưng có thể cho hiệu quả tốt nhất. Việc thiền định đúng cách đòi hỏi sự cố gắng bền bỉ và vượt khó đặc biệt. Trong cuốn Cổ thư có đưa ra lời cảnh tỉnh đáng chú ý sau đây: “Quyền năng là những năng khiếu tự nhiên sẽ đến khi người tu luyện đạt tới một mức nhất định, đó là những phương tiện giúp người tu tiếp tục con đường của mình... Tuyệt nhiên quyền năng không phải là những điều cầu mong hay mục đích của việc tu hành. Kẻ nào ham mê thần thông sẽ gặp những hậu quả vô cùng tai hại”.                

       Sau đây sẽ xem xét hai loại giác quan đặc biệt hay gặp và thông dụng nhất là thị giác và thính giác.

        Thị giác đặc biệt:  Đây là “mắt thứ ba” tiềm ẩn ngoài hai mắt thường. Nó nằm ở vị trí điểm giữa hai chân mày (luân xa 6). Con mắt này còn có các tên gọi khác như thiên nhãn, thần nhãn, thấu thị, thị giác cao cấp... Sự tồn tại mắt thứ ba ở con người đã được nói tới trong kinh sách từ mấy ngàn năm nay.

        Theo bà E.P. Blavatsky (tác giả cuốn sách Học thuyết bí ẩn, tiếng Nga, năm 1937), tổ tiên cổ xưa của loài người chỉ có mắt thứ ba là cơ quan thị giác duy nhất. Mọi người đều có khả năng nhìn xa trông rộng, bao gồm cả những sự vật ẩn kín. Thị giác của họ không có giới hạn và có thể nhìn thấy sự vật trong khoảnh khắc. Đối với những người như vậy không tồn tại khoảng cách, không có vật cản. Họ thấu hiểu các bí ẩn của tự nhiên. Hai mắt thường ở loài người và động vật mãi sau này mới phát sinh và trở thành một cơ quan thị giác vật lý. Còn mắt thứ ba ngày càng ít được dùng, cho nên dần dần nó bị thoái hoá và quên lãng.

       Các loài sinh vật nói chung cũng có khả năng nhận biết bằng mắt thứ ba. Ví dụ, cú mèo có thể nhìn thấy dễ dàng trong đêm tối và nhận ra nguồn năng lượng phát sinh từ người hay vật nuôi sắp chết. Nhiều người tin rằng, chó nhìn thấy các sinh thể năng lượng nên phản ứng tự vệ bằng cách gầm gừ, sủa, bỏ chạy giật lùi. Loài rắn chuông có thể nhìn xuyên màn đêm. Nhiều con vật có thể thấy trước hiện tượng động đất, sóng thần v.v... Thậm chí, các cây cối cũng có biểu hiện phản ứng trước một mối nguy hiểm hay một tình cảm thân thiện. Nhờ sự cảm nhận tựa như mắt thứ ba mà chúng có thể giao tiếp với con người. Thổ dân của một số khu vực trên thế giới vẫn còn lưu giữ những tập tục rất kỳ lạ về đời sống hoà đồng với các loài động vật và cây cỏ.

       Lưu truyền trong thế giới Phật giáo một câu chuyện cảm động nói về thiên nhãn. Trong số mười đại đệ tử của Phật Thích Ca có một người tên là A Na Luật. Người này sinh trưởng trong dòng dõi vua chúa, vốn là em con chú của Đức Phật và là em ruột của vua Ma Ha Nam. Sau khi đạo sĩ Cồ Đàm chứng ngộ thành Phật, chàng thanh niên A Na Luật dứt bỏ con đường công danh để xuất gia theo Ngài.

       Tuy đạo tâm của A Na Luật rất bền vững, nhưng có một lần ông đã bị Đức Phật quở trách nặng nề. Trong một buổi giảng kinh, Đức Phật đã nhìn thấy A Na Luật ngủ gật nên Ngài đã lấy hình ảnh loài sò ốc để răn dạy tu sĩ này. Có lẽ vì hối hận, A Na Luật đã thề nguyện với Đức Phật “từ nay về sau cho đến lúc chết con không ngủ trở lại nữa”. Hậu quả là chỉ ít lâu, hai mắt của ông hoàn toàn bị mù. Với lòng từ bi vô hạn, Đức Phật đã khai mở thiên nhãn cho A Na Luật. Nhờ đó mà ông có thể “thấy khắp mọi nơi, không phân biệt gần xa và trong ngoài”. Khả năng thiên nhãn đã giúp A Na Luật hành đạo hiệu quả và giúp đỡ những tu sĩ khác.     

       Một trong những người Mỹ đương đại có mắt thứ ba sáng tỏ là Barbara Ann Brennan - nhà khoa học, nhà tâm lý trị liệu và chữa trị thực hành. Khả năng thấu thị của bà do sự kết hợp bẩm sinh và tự rèn luyện. Bà Brennan lớn lên trong một trang trại ở Wisconsin với tuổi thơ rất bình dị. Vì không có nhiều bạn nên cô bé Barbara thường tha thẩn chơi và ngồi im lặng một mình hàng giờ trong rừng, tập hoà mình vào cảnh vật xung quanh. Giữa những khoảnh khắc yên tĩnh trong rừng, cô bé đi vào một trạng thái bành trướng ý thức, trong đó có thể thấy được những sự vật vượt ra khỏi giới hạn trải nghiệm thông thường.  Bà Brennan còn nhớ là đã tập bịt mắt đi lại trong rừng và nhận biết được từng cây cối, từng con vật nhỏ mà không cần nhìn. Dần dần, bà đã phát hiện ra rằng, mọi vật đều có trường năng lượng bao quanh, phần nào giống như ánh sáng của ngọn nến; mọi vật liên kết với nhau bởi trường năng lượng đó và tất cả mọi thứ đều tồn tại giữa đại dương năng lượng bao la.

       Nhờ thị giác đặc biệt, bà Brennan đã thực hành có hiệu quả việc chữa bệnh bằng năng lượng sinh học, khả năng đó thể hiện ở những điểm sau đây:

       · Thấy rõ cấu trúc màu sắc và biểu hiện bệnh lý của các vùng thuộc cơ thể năng lượng con người;

       · Nhìn thấy các khối u, thậm chí cả các vi khuẩn trong thân thể bệnh nhân;

       · Có thể nhìn thấy các sinh thể năng lượng thuộc một số chiều thực tại phi vật lý.

       Trong cuốn sách Bàn tay ánh sáng, bà Brennan cũng đã đề xuất một quy trình tập luyện khá chi tiết và toàn diện để những ai quan tâm đều có thể tự thực hành khai mở mắt thứ ba của mình.

        Thính giác đặc biệt: Cũng như đối với thị giác, ở con người tiềm ẩn khả năng đặc biệt về thính giác, đó là “tai thứ ba”, nó nằm tại vị trí họng (luân xa 5). Điều này đã được rất nhiều người khẳng định bằng trải nghiệm thực tế. Để minh hoạ, dưới đây sẽ xét một trường hợp phát sinh thính giác đặc biệt do sự cố điện giật, đã xảy ra với ông Nguyền Văn Chiều cách đây gần ba mươi năm.

       Ông Chiều là con một gia đình nông dân, sinh năm 1952, ở thôn Trung, xã Hội Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Khi lớn lên ông đi làm công nhân tại công ty Cơ giới 6, thuộc xí nghiệp Liên hiệp cầu Thăng Long.

       Ngày 10 tháng 7 năm 1976, ông Chiều được giao nhiệm vụ sửa chữa đường dây tải điện. Trước khi ông trèo lên cột điện để làm việc, trạm phân phối đã cắt điện. Trong thời gian ông đang nối dây thì người gác đã tự ý đóng cầu dao và gây nên một tai nạn thảm khốc. Ông Chiều đã bị điện thế 6000 vôn giật, rơi từ đỉnh cột cao 12 mét xuống đất và mê man bất tỉnh. Sau chín ngày “chết lâm sàng”, tự nhiên ông hồi tỉnh và nhận thấy ở mình có một số khả năng khác thường: nghe được một lúc từ không trung nhiều tiếng nói lộn xộn bí ẩn và nhìn thấy nội tạng của những người ngồi xung quanh; khi tập trung sự chú ý vào một thứ tiếng hay một bộ phận thì âm thanh hay hình ảnh đó trở nên rõ nét. Đặc biệt vào khoảng 23 giờ hàng ngày, ông có thể nghe được “sóng” âm thanh dạy cách chữa bệnh bằng mắt và tay. Ông đã ghi chép lại những gì bổ ích nghe được và đã tự chữa cho mình ngay trong thời gian còn nằm điều trị tại bệnh viện. Nhiều năm qua, khả năng chữa bệnh không dùng thuốc của ông Chiều đã được áp dụng có hiệu quả, đặc biệt là sau khi thành lập Trung tâm nghiên cứu tâm năng dưỡng sinh - phục hồi sức khoẻ vào ngày 7 tháng 12 năm 1995 do ông làm Giám đốc.

        Cũng đã có những trường hợp tương tự xảy ra ở Việt Nam và các nước khác. Một số ví dụ:

       · Sau khi bị chó dại cắn 17 ngày, virus dại đã thâm nhập lên não, sự sống tưởng chừng như sắp chấm dứt thì bỗng nhiên cô gái Phan Thị Bích Hằng (Ninh Bình) tỉnh lại và phục hồi sức khoẻ. Dần dần ở Bích Hằng xuất hiện khả năng đặc biệt:  có thể nhìn thấy và giao tiếp bằng lời với các vong linh. Nhờ đó mà cô gái này đã giúp mọi người tìm được hàng ngàn bộ hài cốt thất lạc trong lòng đất. Khả năng phi thường của Bích Hằng đã được thừa nhận rộng rãi.   

       · Vào khoảng năm 1923, một tai hoạ thảm khốc bởi trận cuồng phong đã quật ngã và cuốn theo cát bụi cô bé Vanga. Hậu quả là đôi mắt của cô bé 12 tuổi này bị viêm nhiễm rất nặng và bị mù hẳn sau đó 2 năm. Bù lại, cô gái Vanga dần dần đã có khả năng đặc biệt về thính giác, thị giác và đoán nhận thông tin liên quan đến số phận của hàng vạn người.       

       · Vào năm 1978, do tai nạn điện 380 vôn, một nữ công nhân 37 tuổi là Yulia Vorobiova (thành phố Donesk, Cộng hoà Ucraina) đã mất hết dấu hiệu sống nên bị đưa vào nhà xác. Sau vài ngày, tình cờ người ta đã phát hiện ra bà cử động và được chuyển ngay đến bệnh viện để điều trị. Rồi bà đã trở lại sống bình thường. Điều bất ngờ là từ đó, Yulia bắt đầu nhìn thấy các bộ phận trong thân thể con người...

        Người ta thường đặt ra câu hỏi:  Vì sao sau các biến cố kinh hoàng nào đó, con người lại có khả năng đặc biệt về thị giác, thính giác và những thứ khác? Các hiện tượng phi vật lý đó dựa trên nền tảng nào?

       Theo bà Brennan, tất cả các cơ thể năng lượng đều có hệ thống giác quan liên hệ trực tiếp với những luân xa chính được đánh số từ 1 đến 7 (xem phần 4). Cần nhắc lại rằng, mỗi “luân xa” hay cuộn xoáy là cánh cửa mà qua đó diễn ra sự trao đổi năng lượng với các chiều thực tại của vũ trụ. Toàn bộ các luân xa chính, luân xa phụ và huyệt châm cứu là những lối mở cho năng lượng đi vào và đi ra khỏi trường hào quang con người.

       Sự tương tác năng lượng (sóng) qua các luân xa chính tạo nên những hình thái ý thức ở dạng nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, cảm thấy hay nhận biết trực tiếp tuỳ thuộc vào mức độ “khai mở” luân xa. Thuật ngữ khai mở ở đây phản ánh đúng theo nghĩa đen. Thông thường, lối mở của mỗi luân xa vào các chiều thực tại năng lượng ít nhiều đều bị tắc nghẽn nên hầu hết chúng ta chỉ có hệ thống giác quan vật lý hoạt động. Khi xảy ra biến cố tai nạn, bệnh tật hay các nguyên nhân khác, một số luân xa có thể được khai mở với những chiều thực tại nhất định (từ thấp đến cao), dẫn đến sự mở rộng các hình thái ý thức tương ứng về nghe, nhìn, cảm nhận hay nhận biết trực tiếp. Ví dụ, một cá nhân khi được khai mở luân xa 5 và luân xa 6 với chiều thực tại NF1 thì người đó có thể nhìn thấy hình bóng và nghe thấy tiếng nói của các vong linh. Lưu ý là ngoài chức năng nghe âm thanh, giác quan ở luân xa 5 có thêm chức năng vị giác và khứu giác; còn giác quan ở luân xa 1 - chức năng xúc giác thuộc các chiều thực tại năng lượng.

        Đọc thông tin về người khác

       Trong số những người nổi tiếng thế giới của thế kỷ 20 với khả năng “đọc” thông tin về người khác liên quan đến các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ và sẽ xảy ra trong tương lai, phải kể đến đầu tiên là bà Vanga. Đứng trên phương diện vật lý, hiện tượng này quả là vô cùng bí ẩn. Nhưng dưới góc độ thuyết vũ trụ đa chiều thực tại và các quá trình năng lượng diễn ra ở những bình diện vật chất không nhìn thấy, tất cả các hiện tượng bí ẩn như vậy đều có thể hiện thực.

       Để lý giải hiện tượng đọc thông tin quá khứ có quan hệ với một người không quen biết nào đó, cần phải chỉ rõ các yếu tố sau đây: vật mang thông tin, sự hình thành thông tin và cơ chế đọc thông tin. 

       Vật mang thông tin: Các nhà nghiên cứu tâm linh từ lâu đã biết rằng, thông tin về một sự vật trong quá khứ có liên quan đến người chứng kiến đã được ghi lại và lưu giữ bởi những vi cấu trúc của loại vật chất tinh tế, được gọi là năng lượng tâm thần. Đây là loại vật chất - sóng thuộc các chiều thực tại không nhìn thấy. Rất có thể, những vi cấu trúc năng lượng chứa thông tin về các sự kiện riêng lẻ (gọi tắt là “vi lượng tin riêng”) của một cá nhân dần dần sẽ được kết hợp với nhau thành những vi cấu trúc năng lượng chứa thông tin tổng thể về các sự kiện đã xảy ra (gọi tắt là “vi lượng tin chung”). Có vô số phần tử vi lượng tin chung hiện hữu trong các cơ thể không nhìn thấy của một cá nhân và dễ dàng thấm vào bất cứ vật nào mà người đó nắm giữ.

       Giả định về sự tồn tại những phần tử vi lượng tin chung có lẽ phần nào cũng giống như sự có mặt các gen di truyền trong những tế bào sinh vật. Thực tế cho thấy rằng, năng lượng tâm thần có thể tồn tại nhiều ngày, nhiều tháng hoặc nhiều năm tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà người chứng kiến trải qua.    

       Sự hình thành thông tin: Trước hết cần nói rõ là mỗi sự vật liên quan đến một cá nhân thường xảy ra dưới sự hiện diện ý thức của người đó - ý thức chứng kiến.

       Việc hình thành thông tin về một sự vật đang diễn ra ít nhiều tương tự như việc ghi hình các cảnh trong một bộ phim. Mọi chi tiết có liên quan đến sự vật đều được lưu giữ bởi quá trình cấu trúc hoá năng lượng tâm thần theo một cách thức mà chúng ta chưa biết. Kết quả là xuất hiện những phần tử vi lượng tin riêng và tiếp sau là những phần tử vi lượng tin chung. Nguồn lực tạo nên quá trình đó phát sinh từ ý thức chứng kiến của người tham gia. Độ rõ và độ bền của thông tin được ghi lại phần lớn phụ thuộc vào sự tập trung ý thức của người chứng kiến. Như vậy, nếu sự vật diễn ra với một cá nhân đang ngủ (vô ý thức hoàn toàn) thì không có thông tin gì được lưu giữ ở người đó.  

       Cơ chế đọc thông tin:  Mọi quá trình mà con người nhận biết thế giới sự vật đều liên quan đến hiệu ứng của các loại sóng: hình ảnh phát sinh từ sóng ánh sáng, âm thanh phát sinh từ sóng âm v.v... Có lẽ cơ chế đọc thông tin từ những vi lượng tin (riêng hoặc chung) phải dựa trên việc cộng hưởng với năng lượng - sóng tâm thần. Đó là quá trình dò - cộng hưởng các cấu trúc năng lượng đã được ghi, giống như máy đọc tín hiệu video. Nhà ngoại cảm có thể tiếp xúc với năng lượng tâm thần một cách trực tiếp từ người yêu cầu hoặc gián tiếp qua vật nhiễm như đồ dùng hay thực phẩm.

       Cần lưu ý rằng, một số người với khả năng đặc biệt hoặc khi ở trạng thái xuất thần còn có thể đọc được thông tin tiền kiếp về một sự kiện của chính mình. Trong trường hợp đó người nhận thông tin dường như đang trực tiếp trải qua hoàn cảnh cũ nhưng ở một thang bậc thời gian khác. Điều này gợi lên rằng, sự du hành của con người vào quá khứ chỉ có thể diễn ra theo nghĩa như một khán giả tập trung lý trí và cảm xúc cao độ để xem bộ phim mà trong đó bản thân nhập vai chính rất thành công.      

       Khác với thông tin về những gì đã xuất hiện, cơ chế hình thành thông tin về một sự cố chưa xảy ra ít nhiều có quan hệ với các quá trình tiền định của số phận con người. Đây là một vấn đề có vẻ bề ngoài rất bí ẩn nhưng phù hợp logic nếu xét theo góc độ thuyết vũ trụ đa chiều thực tại. Nói một cách ngắn gọn, số phận của mỗi người được quyết định bởi ba yếu tố:  tiền định, chủ quan và khách quan, trong đó tỷ lệ ảnh hưởng giữa chúng có thể bị thay đổi theo thời gian và không gian. Sự tồn tại thông tin về tương lai nằm trong bối cảnh sau đây:

       · Thông tin về tương lai xa và hệ trọng là do tiền định;

       · Thông tin về tương lai gần và chi tiết hoá là do suy nghĩ;

       · Không phải tất cả các khía cạnh của một sự cố sẽ diễn ra đúng như thông tin đã được dự đoán.

       Các dữ liệu thực tế cho thấy rằng, thông tin về tương lai thường được đưa ra ở mức độ chung chung và quan hệ với những sự cố nổi bật của cuộc đời con người. Trong khi đó, những thông tin về quá khứ lại rất cụ thể, thậm chí chính xác đến từng chi tiết vụn vặt.       

        Suy nghĩ và trực giác

       Theo cách hiểu thông thường, từ “suy nghĩ” được dùng chỉ sự hoạt động của trí óc để tìm hiểu và giải quyết vấn đề, từ một số phán đoán và ý nghĩ này đi đến những phán đoán và ý nghĩ khác có chứa tri thức mới. Như vậy, việc suy nghĩ đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định tuỳ thuộc vấn đề được xét và khả năng trí tuệ của người giải quyết. Trong khi đó, nghĩa của từ “trực giác” nhằm chỉ sự hiểu biết trực tiếp các vấn đề mà không cần suy nghĩ. Rõ ràng, hiện tượng trực giác diễn ra một cách tức thời hoặc trong một khoảng thời gian rất ngắn.

       Đặc điểm của hai bán cầu não:  Bộ não người là một cấu trúc sinh học cực kỳ phức tạp, tinh vi và vô cùng bí ẩn. Về chức năng, nó được phân chia thành bán cầu não phải và bán cầu não trái. Sự đa dạng trong cuộc sống mỗi cá nhân nói riêng và toàn bộ xã hội nói chung được quyết định phần lớn bởi vai trò trái ngược nhau của các bán cầu não.

Thực tế chỉ ra rằng, các bán cầu não người điều khiển chéo hai cánh tay của thân thể: bán cầu não phải điều khiển tay trái, còn bán cầu não trái - tay phải. Bán cầu não phải có quan hệ với các thuộc tính: trực giác, phi logic, phi lý, nghệ thuật, lãng mạn, nữ tính, siêu hình, tưởng tượng, huyền bí, tâm linh; trong khi đó bán cầu não trái thể hiện các đặc trưng: suy nghĩ, logic, hợp lý, kỹ thuật, thực dụng, nam tính, hữu hình, cụ thể, phi huyền bí, vật chất... Tâm trí con người được thể hiện ở bình diện vật lý qua bộ não, cho nên nó dường như được cấu thành từ hai phần mâu thuẫn nhau và luôn tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau. Khi nhận biết điều đó thì mỗi người có thể trung hoà ngay chính hai phần tâm trí của mình để làm cho cuộc sống hàng ngày bớt căng thẳng nội tại và ứng xử bên ngoài dễ dàng hơn.  

Người ta cho biết rằng, giữa hai bán cầu não có một cầu nối rất mảnh. Nếu chiếc cầu nối bị hỏng do tai nạn, sai sót sinh lý hay một nguyên nhân nào khác thì một cá nhân sẽ trở nên bất thường, người đó sẽ có hai tính cách hầu như độc lập nhau - hiện tượng ảo giác hay nhân cách mâu thuẫn sẽ xảy ra. Một người như vậy có thể sống ở phần này hoặc phần khác của tâm trí mà không nhớ được những gì đã xảy ra ở phần bên kia cầu nối. Nếu cầu nối được “gia cố” vững chắc đến một mức nhất định thì sẽ xảy ra sự thể hiện hợp nhất hai phần tâm trí, trong trường hợp đó con người có thể dễ dàng đạt đến trạng thái an bình bền vững.

       Một trong những dấu hiệu nổi bật mà dựa vào đó có thể xem xét mức độ thể hiện trong thực tế của các bán cầu não người là thói quen thuận tay trái hay thuận tay phải. Tồn tại giả thuyết cho rằng vào thời nguyên thuỷ, hai bán cầu não người đã có sự hoạt động cân bằng nên một cá nhân có thể đã sử dụng hai tay của mình ngang nhau. Rõ ràng, xã hội càng phát triển thì nhu cầu hoạt động của bán cầu não trái càng tăng lên, dẫn đến sự nổi trội của những người thuận tay phải. Trung bình có mười phần trăm trẻ em được sinh ra với khả năng thuận tay trái. Tỷ lệ thực tế phụ thuộc khá nhiều vào nền tảng văn hoá và mức độ phát triển vật chất của mỗi cộng đồng dân cư. 

       Thuyết tâm linh khẳng định rằng, sự biểu hiện thuận tay trái hay thuận tay phải của một đứa bé hầu như không phụ thuộc vào phần thể xác của nó, tức là không phải do di truyền sinh học tạo ra. Thuộc tính này được quyết định chủ yếu bởi hệ thống các cơ thể năng lượng của mỗi cá nhân hay bởi di truyền tâm linh. Mặt khác, một người có bán cầu não phải phát triển không nhất thiết dẫn đến thói quen thuận tay trái. Nhưng bán cầu não phải ở một cá nhân thuận tay trái thường là rất nhạy cảm và có thể phát huy tác dụng hơn bán cầu não trái.    

       Như trên đã đề cập đến, khả năng trực giác của con người được thể hiện qua bán cầu não phải, còn khả năng suy nghĩ - qua bán cầu não trái. Người ta tin là các phản ứng trí tuệ và hành động ở con người bằng con đường trực giác là tối ưu và diễn ra một cách tức thời, còn bằng con đường suy nghĩ - cục bộ và đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định. Do vậy, các vận động viên ở những bộ môn như đấu kiếm, bóng bàn, quần vợt, cầu lông, bóng chuyền, bóng đá... cần phải có một mức độ nhạy cảm vượt trội của bán cầu não phải. Chỉ khi đó họ mới có khả năng trực giác đủ để hành động một cách đúng đắn và mau lẹ trong mọi tình huống bất thần xảy ra.

       Khả năng trực giác của con người đã được tận dụng tối đa trong các cuộc huyết chiến tay đôi bằng kiếm (kiếm thuật). Đối với tình huống đó, mỗi sơ suất trong hành động tự vệ của các phía có thể dẫn đến mất mạng. Bởi vậy, họ phải dày công rèn luyện cách hành động tức thời mà vẫn không mắc sai lầm chết người. Các đối thủ kiếm thuật có thể không phân thắng bại nếu cả hai đều hành động hoàn toàn bằng trực giác.  

       Phương pháp hiệu quả để nâng cao khả năng trực giác hay phát triển bán cầu não phải là thiền zen. Trong tư thế ngồi hoặc nằm, mỗi cá nhân có thể thực hiện thiền theo cách đơn giản nhất là không làm gì cả với sự chứng kiến (nhận biết, quan sát) chính thân vật lý và tâm trí của mình. Nhờ quá trình tập luyện lâu dài như vậy, phẩm chất tỉnh táo có thể được mở rộng và duy trì ngay cả khi con người có những hoạt động phức tạp tuỳ ý.

       Quá trình thiền lâu dài còn có thể cho phép mỗi cá nhân nhanh chóng tự dập tắt mọi cơn nóng giận, buồn chán, lo sợ, bồn chồn bất an... Việc hành thiền với tiêu chí nâng cao phẩm chất tỉnh táo được coi là một phương sách thần diệu và đại chúng để lành mạnh hoá tâm trí, tình cảm và các hành vi của con người.

Các ý nghĩ: Ý nghĩ hay tư tưởng là người bạn gần gũi nhất của mỗi người. Tuy vậy, cho đến nay giới khoa học vẫn còn lúng túng trước nhiều câu hỏi về hiện tượng tư duy. Xuất phát từ cấu trúc đa chiều của cơ thể con người, có thể lý giải hàng loạt vấn đề khó hiểu như bản chất, nguồn gốc, thời gian tồn tại, vai trò cũng như khả năng tiềm tàng của các ý nghĩ

Như chúng ta đều biết, con người bình thường nghe và nhìn thấy các sự vật xung quanh nhờ sóng âm và sóng ánh sáng. Hơn nữa, con người cảm nhận được bản thân, gia đình, xã hội và thế giới tự nhiên là nhờ các dạng sóng và dao động với những tần số khác nhau. Dựa trên các kết quả quan sát được tích lũy nhiều năm, người ta cũng đã đi đến kết luận:  ý nghĩ được não bộ nhận biết ở dạng sóng đặc thù, bao gồm các tia năng lượng mà những người với thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy. Nói cách khác, khi con người suy nghĩ, diễn ra quá trình bức xạ năng lượng không nhìn thấy, nó cũng là một dạng của năng lượng tâm thần.

Từ hàng ngàn năm nay, nhiều danh nhân nổi tiếng thế giới đã cho biết, một số ý tưởng quan trọng của họ dường như tự nhiên xuất hiện. Điều tương tự cũng thường xảy ra: con người có thể “chộp” được ý nghĩ nào đó mà không đòi hỏi quá trình tư duy. Phải chăng các ý nghĩ có thể tồn tại trong không gian xung quanh chúng ta? Ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu khẳng định điều đó.

Khởi đầu tạo mầm cho một ý nghĩ ở con người diễn ra không phải trong bộ não (thân vật lý), mà là tại thể trí (cơ thể năng lượng thứ ba). Mỗi ý nghĩ là một dao động đặc trưng. Quá trình dao động đó sẽ hình thành nên một thực thể năng lượng tương ứng với chất liệu lấy từ bình diện thể trí (nếu nội dung có tính trí tuệ), từ bình diện thể vía (nếu nội dung có tính cảm xúc) hoặc từ cả hai bình diện đó (nếu nội dung có tính hỗn hợp). Thực thể năng lượng của ý nghĩ cũng có biểu hiện sống ở mức thấp - tự tồn tại và tự trao đổi thông tin hạn chế. Thực thể đó được gọi là hình tư tưởng và thường có mặt trong thể vía. Từ đây, sự rung động của mỗi hình tư tưởng sẽ được lan truyền tới não mà kết quả là con người nhận biết được nội dung tương ứng của ý nghĩ. Vì vậy, các nhà nghiên cứu tâm linh coi thể vía có vai trò trung gian giữa thể trí và bộ não.     

Ở một cá nhân thường có hai loại ý nghĩ. Các ý nghĩ hoạt tính do thể trí của người đó tạo ra. Chúng là những dao động xác định, được lan truyền từ thể trí qua thể vía. Tại đây các hình tư tưởng tương ứng được hình thành để làm nhiệm vụ trung chuyển nội dung ý nghĩ vào bộ não.

Các ý nghĩ thụ tính của một cá nhân không phải do thể trí của mình tạo ra. Chúng được não tiếp nhận từ những hình tư tưởng bên ngoài có mặt trong không gian và đã xâm nhập vào thể vía của người đó.

Mỗi người luôn bị bao bọc bởi một lớp hình tư tưởng và chúng liên tục “giao tiếp” với môi trường. Nhiều người tin vào quy luật sau đây: các hình tư tưởng thu hút nhau nếu cùng loại và đẩy nhau nếu khác loại. Bởi vậy, những người cao thượng thu hút về mình các hình tư tưởng yêu thương, nhân từ và tốt đẹp, còn những kẻ xấu - thu hút các hình tư tưởng thù hận, tham lam và tội lỗi.

Điều đặc biệt đáng chú ý là các hình tư tưởng có vai trò hướng tới thúc đẩy thực hiện những gì mà con người đã suy nghĩ. Tùy thuộc vào cường lực suy nghĩ, các hình tư tưởng có thể chỉ “sống” trong chốc lát hoặc kéo dài hàng ngàn năm. Người ta cho rằng, lớp khí quyển ở gần mặt đất hiện nay chứa hàng tỉ tỉ hình tư tưởng.

       Bản chất của trực giác: Khi đi sâu tìm hiểu thuộc tính đặc trưng của các yếu tố cấu thành con người theo mô hình tâm linh (xem phần 4) sẽ thấy rằng, thân vật lý có bản năng sinh tồn, tâm trí có tiềm năng trí tuệ và tâm thức có trực giác hoàn hảo. Như vậy, ngoài bản năng của thân vật lý, con người còn có thể suy nghĩ và sử dụng trực giác để giải quyết những vấn đề gặp phải trong cuộc sống. Nhưng khác với cách suy nghĩ, một hành động trực giác diễn ra bất thần tựa như ở ngoài dòng chảy thời gian. Vì sao vậy?

       Để lý giải tính tức thời của trực giác, cần phải nhớ lại trạng thái hoà đồng của một vị Phật (xem phần 5). Đó là trạng thái mà tâm trí cá nhân nhường chỗ cho tâm trí vũ trụ vận hành, tất cả những gì tồn tại đều diễn ra một cách hợp nhất trong bối cảnh “ở đây và bây giờ” - không gian và thời gian không còn tính tương đối. Như vậy, trực giác chính là sự thể hiện tính toàn bộ của cái Một trong mối quan hệ với cá thể con người. Ẩn dụ sau đây sẽ minh hoạ thêm điều đó.

       Chúng ta biết rằng, con người là một “tiểu vũ trụ”. Giả sử hai tay của một cá nhân có tâm trí riêng với khả năng suy nghĩ, hành động và có thể “chứng ngộ”, tức là có thể hoà đồng tâm trí riêng với tâm trí của người đó. Khi chưa “chứng ngộ”, sự hoạt động có suy nghĩ của mỗi tay diễn ra một cách chậm chạp và độc lập nhau. Khi tay này đối phó với tay kia, nó cần thời gian để suy nghĩ. Nhưng nếu tâm trí riêng của hai tay hoà nhập với tâm trí cá nhân thì sự hoạt động đối phó như vậy sẽ diễn ra chính xác và tức thời...

       Với ý nghĩa là một tiểu vũ trụ, mỗi con người chứa hàng tỷ cá thể tế bào mà đến lượt chúng dường như cũng có trí tuệ riêng ở mức này hay mức khác. Nhiều nhà nghiên cứu đã đi đến ý tưởng rằng, mỗi tế bào hoạt động như một thực thể có trí tuệ độc lập trong mối quan hệ hoà đồng với trí tuệ chung của cơ thể. Nói một cách hình tượng, mỗi tế bào là “tiểu phật” thuộc một tiểu vũ trụ tương ứng. Do đó, mỗi cơ thể có khả năng hoạt động hài hoà và rất hiệu quả. 

       Rõ ràng, trực giác hoàn hảo chỉ hiện hữu ở các vị Phật vì họ đã hoà nhập với cái Một. Khả năng trực giác từng phần cũng hay xuất hiện ở những người chưa chứng ngộ khi tâm trí của họ tạm thời dừng hoạt động do thả lỏng hoàn toàn hoặc tập trung sự chú ý cao độ vào một điều gì đó. Nói đến cùng, mục đích của một tu sĩ Phật giáo là áp dụng mọi phương sách hữu hiệu để nâng cao khả năng trực giác của bản thân từ chỗ có biểu hiện gián đoạn tiến tới liên tục.

        Tình yêu là gì? 

       Tình yêu là một hình thái của sự nhận biết. Theo bà Brennan, tình yêu được cảm nhận bởi một giác quan đặc biệt thuộc luân xa tim (luân xa 4).

Cũng như với các hình thái nhận biết khác, tình yêu không thể được định nghĩa bằng lời dưới bất kỳ hình thức nào, cách duy nhất để biết tình yêu là cảm nhận nó. Nhưng tồn tại rất nhiều chỉ dẫn mà nhờ đó chúng ta có thể hình dung phần nào sự kỳ diệu của tình yêu. Dưới góc độ tâm linh, tình yêu ở một cá nhân nảy sinh khi người đó có sự hoà nhập sâu sắc với cội nguồn vũ trụ (bình diện tâm thức); trong trạng thái như vậy diễn ra sự tan chảy cái “tôi” của đối tượng. Tình yêu là một nhu cầu đối với mọi người vì chúng ta đã và đang bị chia lìa khỏi cội nguồn vũ trụ và luôn khao khát được hội nhập trở lại. Bản ngã hay cái riêng của mỗi cá nhân tạo nên rào chắn năng lượng giữa con người và toàn thể sự tồn tại (cái Một). Chính bản ngã gây ra hiệu ứng tựa như trở kháng ngăn cản năng lượng tình yêu chuyển vận từ bản thể (bình diện tâm thức) tới con người. Khi có sự hài hoà toàn bộ giữa con người và thiên nhiên thì điều bản chất sâu xa sau đây sẽ được khẳng định: tình yêu đồng nghĩa với sự sống.

       Tình yêu có thể nảy sinh ở con người bởi nhiều yếu tố khác nhau. Nhưng vì sao trong cuộc sống thường ngày, tình yêu dễ dàng xảy ra giữa nam và nữ? Và đặc biệt là đối với những người trẻ tuổi?

       Dễ thấy rằng, nam và nữ là hai nửa đối cực âm dương mà khi có quan hệ tương phản nhất định thì sẽ dẫn đến sự trung hoà cái tôi của một phía (tình yêu đơn phương) hoặc cả hai phía (tình yêu song phương); điều này dễ xảy ra hơn ở lớp trẻ vì bản ngã của họ còn ít và chưa bền vững. Với hiện tượng tình yêu, người nam và người nữ chỉ đóng vai trò xúc tác hay cánh cửa để mỗi cá nhân đi qua đó tiếp xúc trực tiếp với bình diện tâm thức.

       Có thể thấy rằng, tình yêu làm nảy sinh nỗi sợ lớn vì mỗi cá nhân không dễ dàng cho phép đánh mất chính mình. Tất cả chúng ta chỉ có thể bắt rễ vào cội nguồn nguyên thuỷ nếu cái tôi biến mất (tạm thời hoặc vĩnh viễn), và đó là cách duy nhất để tình yêu nảy sinh. Qua con đường tình yêu, con người bị thu hút về cội nguồn nguyên thuỷ vì thiếu sự tiếp dưỡng của nó, nhưng vào lúc cái tôi bắt đầu tan chảy thì lại cảm thấy hốt hoảng. Đó là thế tiến thoái lưỡng nan mà mỗi người khi tìm kiếm tình yêu sẽ phải giáp mặt, hiểu biết, chuyển hoá và cố gắng vượt qua. Như vậy, tình yêu và nỗi sợ là hai điều trái nghịch triệt tiêu lẫn nhau. Cũng cần nói thêm rằng, các cảm xúc yêu và ghét chỉ là hai cực của cùng một dạng năng lượng: năng lượng yêu có thể được chuyển đổi thành năng lượng ghét và ngược lại. Chúng là phần bù của nhau tại các bình diện của tâm trí. 

       Con người có thể đạt tới tình yêu với mức độ khác nhau bằng nhiều con đường:  tình yêu khác giới, tình yêu cảnh vật thiên nhiên, tình yêu văn học nghệ thuật, tình yêu thể thao, tình yêu qua xuất thần hoặc thiền định. Tình yêu sẽ nảy sinh ở con người khi có mặt một số yếu tố nhất định mà nhờ đó bản ngã của mỗi người tan biến. Xét một vài ví dụ.

Mối tương quan âm dương giữa nam và nữ là đặc trưng cơ bản dẫn đến tình yêu khác giới. Có lẽ trong thời đại nguyên thuỷ, mọi người ít quan tâm đến tình yêu nói chung vì họ đã được thoả mãn điều đó một cách tự nhiên, giống như chúng ta hít thở không khí hàng ngày. Khi nền văn minh nhân loại càng phát triển thì bản ngã của mỗi cá nhân cũng mạnh lên và hậu quả là con người ngày càng thiếu thốn tình yêu do sự cách trở cội nguồn nguyên thuỷ. 

       Một trong những đặc điểm của tình yêu khác giới ở thời đại văn minh là thiếu sự bền vững và dài lâu. Nguyên nhân chính là do sự thay đổi thường xuyên tổ hợp yếu tố của các đối tượng mà nhờ đó tình yêu nảy sinh. Cách duy nhất để kéo dài tình yêu là mỗi người phải tự hạ thấp bản ngã của mình khi sống cạnh nhau. Nhưng trong một số hoàn cảnh, việc làm tăng bản ngã của mỗi cá nhân lại là phương sách hữu hiệu để chấm dứt mối tình ngoài ý muốn. 

       Con người có thể đạt tới tình yêu rất sâu sắc qua con đường xuất thần. Đây là dạng tình yêu không phụ thuộc vào đối tượng khác. Cơ chế của điều này được lý giải khá đơn giản dưới góc độ tâm linh. Bằng kỹ thuật xuất thần cho thấy rằng, một cá nhân sau ba lần thực hiện tách sẽ đạt đến hệ thống các cơ thể năng lượng tinh tế, được thể hiện như một điểm ánh sáng bao quát mọi phía. Khi đó ý thức người xuất thần cảm thấy tràn ngập trong biển cả năng lượng tình yêu thuần khiết. Vì sao có trạng thái đó? Điều này trở nên dễ hiểu nếu chúng ta biết rằng, phần lớn cái tôi của mỗi người được lưu giữ trong thân vật lý và hai cơ thể năng lượng đầu tiên. Sau khi ba cơ thể đó bị tách ra, sự hiện hữu ý thức của người xuất thần tập trung vào hệ thống các cơ thể năng lượng còn lại - dường như một cá nhân mới được tạo thành với phẩm chất hầu như phi bản ngã, nên rất dễ dàng tiếp xúc với cội nguồn tình yêu chính là bình diện tâm thức. 

Tình yêu ở con người cũng sẽ nảy sinh rõ rệt khi chuyển dời ý thức khỏi thân vật lý và hai cơ thể năng lượng đầu tiên bằng con đường thiền zen. Nhờ đó, mỗi người có thể điều khiển con trỏ tâm thức của mình tự do di chuyển trong bốn cơ thể đầu tiên để đạt đến cảm xúc tình yêu. Điều đáng chú ý là tình yêu từ thiền cũng không phụ thuộc vào đối tượng nào bên ngoài.

Các đạo sư cho biết rằng, một cá nhân ở trạng thái “phật” sẽ biết đến tình yêu thuần khiết và dường như tồn tại vĩnh hằng. Bất kỳ người nào cũng có tiềm năng đạt tới tình yêu cao thượng đó.

       Làm thế nào để biết ai đó đang sống trong tình yêu? Theo thuyết tâm linh, sự hiện hữu tình yêu đích thực ở một cá nhân sẽ làm cho người đó có cảm nhận bản thân như một nguồn năng lượng rạo rực đang tuôn chảy ra mọi hướng. Bởi vậy, năng lượng tình yêu phải luôn được chia sẻ cho nhiều người và cả sự vật xung quanh để tránh những hậu quả tâm thần đáng tiếc.

 

  Nguyễn Hiếu  (Sưu tâm và giới thiệu)




Bản để in Gửi mail cho bạn
 
Các tin khác
  VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần cuối (17/06/2008)
  VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ 9 (04/06/2008)
  Không Nước Không Trăng - 5 (23/05/2008)
  Không Nước Không Trăng - 4 (05/04/2008)
  Không Nước Không Trăng - 3 (10/03/2008)
  Suy diễn từ nguyên lý đột sinh (09/03/2008)
  Về nguyên lý đột sinh (08/03/2008)
  Không Nước Không Trăng - 2 (06/03/2008)
  Không Nước Không Trăng - 1 (05/03/2008)
  OSHO: "Không Nước - Không Trăng" (04/03/2008)
Name: 
Address: 
Country: 
Phone number: 
Email:  
Content: