Trang chủ|Liên kết|Video - Audio
Tin tức - Bài viết
Tiêu điểm
HIỆN TƯỢNG THƠ VĂN LINH CẢM
NHÂN LOẠI ĐANG ĐI ĐẾN DIỆT VONG - Lời kêu gọi của các nhà ngoại cảm
Mô hình ba yếu tố về con người
TIÊN ĐOÁN VỀ XUẤT HIỆN THẾ KỶ TÂM LINH
Lý thuyết về vũ trụ đa chiều thực tại
Thông điệp từ bộ lạc Kogi
Mạt kiếp - Huyền thoại hay sự thật?
THẾ GIỚI TÂM LINH
ĐỊNH LUẬT THIÊN CƠ
THÁNH THẦN CẢNH BÁO
MẪU GỌI CÁC CON
ĐÒN CẢNH CÁO 2006
NGUYỄN TRÃI ỨNG LINH
LỜI THÁNH GIÓNG
Triết lý của Eckharrt Tolle
LỜI MẪU ÂU CƠ - 4
BÍ ẨN VỀ KINH KIM CƯƠNG
KINH THIÊN LÔI
LỜI MẪU ÂU CƠ - 3
MẪU TRUYỀN LONG HỘI
LỜI MẪU ÂU CƠ - 5
LỜI NGỌC PHẬT - 1
LỜI MẪU ÂU CƠ - 6
LỜI MẪU ÂU CƠ - 7
LỜI NGỌC PHẬT - 2
LỜI MẪU ÂU CƠ - 8
VĂN LỆNH CHỈ
LỜI VÀNG TIẾNG NGỌC
KHUYÊN TU KÍP KỲ
KHUYÊN NGƯỜI TU THÂN
GIẢ THUYẾT VÊ KHÔNG GIAN 5 CHIỀU
Phản biện giả thuyết "Không gian 5 chiều"
Xem:
blog counter
 

VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ 9
(Gửi vào: 6/4/2008 8:08:25 PM)
Theo thuyết tương đối của Einstein, thời gian và không gian không phải là những đại lượng độc lập nhau và chúng là thuộc tính của vật chất, chứ không phải tồn tại tự thân. Điều đáng chú ý là từ thuyết đa chiều thực tại còn suy ra sự phụ thuộc của không gian và thời gian vào ý thức con người...

 

Phần thứ chín

CÁC THUỘC TÍNH

CỦA THỰC TẠI

 

 

       Trong phần này chúng ta sẽ xem xét các thuộc tính chủ yếu của thực tại là không gian, thời gian và ý thức dưới góc độ thuyết vũ trụ đa chiều. Những thuộc tính đó từ lâu đã được các nhà khoa học rất chú ý. Đặc biệt, quá trình phát triển nhảy vọt của lĩnh vực vật lý trong thế kỷ 20 đã làm thay đổi căn bản sự nhận thức của con người về cả ba thứ thuộc tính đó.    

        Quan niệm về không gian, thời gian

       Những ý niệm của chúng ta hiện nay về chuyển động của các vật đều có nguồn gốc từ hai nhà vật lý nổi tiếng là Gallileo và Newton. Các thực nghiệm đo đạc của Gallileo đã được Newton sử dụng để làm cơ sở cho những định luật về chuyển động trong hệ thống cơ học của ông. Theo đó, người ta chấp nhận không gian là một yếu tố vĩnh cửu và bất động. Nó là sân khấu trống rỗng cho mọi quá trình biến đổi xảy ra và hoàn toàn không có ảnh hưởng lẫn nhau.

       Điều tương tự cũng được chấp nhận cho cả thời gian. Trong hệ cơ học của Newton, thời gian được coi là một yếu tố độc lập và trôi đi một cách đều đặn từ quá khứ tới tương lai. Thời gian không bị ảnh hưởng bởi sự vận động của các vật và ngược lại. Thời gian dường như cũng tồn tại vĩnh cửu, tức là nó có trước vật chất.

       Một điểm đặc biệt đáng chú ý nữa là không gian tuyệt đối và thời gian tuyệt đối theo kiểu nói trên cũng không bị ảnh hưởng lẫn nhau. Nói cách khác, chúng dường như là những yếu tố tồn tại hoàn toàn độc lập.             

       Sau khi ra đời Thuyết tương đối đặc biệt (1905) và Thuyết tương đối tổng quát (1915) của Einstein, các quan niệm về không gian và thời gian đã có những thay đổi căn bản, được thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:

       · Thời gian phụ thuộc vào người quan sát - các đồng hồ đo thời gian giống hệt nhau được mang bởi những người quan sát mà một số từ họ chuyển động với vận tốc cực lớn có thể cho giá trị thời gian khác nhau;

       · Thời gian và không gian phụ thuộc lẫn nhau, lập thành một yếu tố không - thời gian - mỗi điểm trong bình diện vật lý có thể được mô tả bởi một tổ hợp 4 toạ độ có vai trò như nhau, trong đó 3 toạ độ chỉ không gian, còn toạ độ thứ tư chỉ thời gian;

       · Không - thời gian là một yếu tố động lực - khi một vật chuyển động hoặc một lực tác dụng thì chúng ảnh hưởng đến không - thời gian xung quanh và ngược lại, cấu trúc của không - thời gian sẽ ảnh hưởng đến chuyển động của các vật hoặc tác dụng của các lực; 

       · Không gian và thời gian phụ thuộc vào vật chất - không gian và thời gian không tồn tại tự thân, chúng là những thuộc tính của vật chất, chúng đã phát sinh đồng thời với sự xuất hiện của vật chất và sẽ biến mất nếu vật chất không tồn tại.

       Dưới góc độ của thuyết vũ trụ đa chiều thực tại, quan niệm về không gian và thời gian sẽ có những thay đổi sâu sắc hơn. Thứ nhất, khái niệm về không gian và thời gian từ trước đến nay được nói đến trong khoa học chỉ là thuộc tính của vật chất hữu hình (vật lý), nhưng từ thuyết vũ trụ đa chiều có thể suy ra sự tồn tại không gian và thời gian của vật chất vô hình (vật chất ở dạng năng lượng). Nói cách khác, không gian và thời gian là những thuộc tính của vật chất có cấu trúc (chỉ duy nhất bình diện tâm thức không có không gian và thời gian vì chứa vật chất phi cấu trúc).

       Thứ hai, không gian và thời gian ở những chiều thực tại khác nhau không nhất thiết giống nhau. Đây là một vấn đề đã được các nhà tâm linh bàn đến mặc dù nó chưa được nghiên cứu trong lĩnh vực vật lý. Nói cách khác, không gian và thời gian phụ thuộc vào các chiều thực tại.

       Thứ ba, chúng ta có thể nói đến không gian và thời gian đa chiều với các toạ độ nằm trong những chiều thực tại khác nhau. Ví dụ, sự kết hợp giữa bình diện vật lý và bình diện phi vật lý kề cận (NF1) sẽ cho không gian 6 chiều và thời gian 2 chiều.  

       Thứ tư, không gian và thời gian thực chất là những thuộc tính do “hiệu ứng tâm thức” tạo nên. Nói cách khác, hai thuộc tính đó là kết quả tương tác giữa bình diện tâm thức và các bình diện vật chất có cấu trúc. Nếu thiếu một trong hai thành phần đó thì cả không gian và thời gian sẽ biến mất. Đây là một khía cạnh hoàn toàn mới so với quan niệm của vật lý học hiện đại.

        Mối quan hệ giữa không gian, thời gian và ý thức

       Theo nghĩa hẹp, “ý thức” là sự phản ánh và tái hiện thực tại xung quanh vào lý trí của một sinh thể. Ở đây chúng ta sẽ giới hạn xem xét ý thức của con người.

       Đầu tiên, cần phân biệt hai loại ý thức được phản ánh qua tâm trí và tâm thức tương ứng. Đây là một khía cạnh hoàn toàn mới, mặc dù liên quan đến những hiện tượng có nguồn gốc từ cổ xưa. Sự khác nhau giữa hai loại ý thức này mới nhìn qua thì có vẻ tầm thường, nhưng thực chất thì chúng khác nhau một cách căn bản. Loại ý thức thứ nhất, tạm gọi là “ý thức lai tạp”, hiện hữu ở tất cả những con người còn đồng nhất bản thân mình với thân vật lý và tâm trí. Họ nhận biết sự vật theo không gian tương đối (có liên quan đến các địa điểm khác) và thời gian tương đối (có liên quan đến các thời điểm khác). Như vậy, ý thức lai tạp của mỗi người phản ánh không gian và thời gian theo một cách đặc trưng, thường là mang tính chủ quan cá nhân. Cần lưu ý rằng, sự phản ánh một sự vật qua ý thức lai tạp ít nhiều sẽ đi kèm với “thái độ” cảm nhận của tâm trí người quan sát.

       Loại ý thức thứ hai, tạm gọi là “ý thức thuần khiết”, hiện hữu ở các vị Phật. Họ có khả năng phản ánh hiện thực xung quanh qua tâm thức (chứ không phải tâm trí) trong khung cảnh không gian và thời gian “ở đây và bây giờ”, được thể hiện bởi hai khía cạnh đáng chú ý sau đây:

       · Chỉ có thời gian “bây giờ”- một vị Phật có thể chứng kiến mọi sự vật xung quanh bằng tâm thức một cách tức thời, độc lập với tâm trí, không có bất kỳ mối liên hệ nào với các thời điểm quá khứ và tương lai; 

       · Chỉ có không gian “ở đây” - một vị Phật có thể chứng kiến mọi sự vật xung quanh bằng tâm thức một cách cục bộ, độc lập với tâm trí, không có bất kỳ mối liên hệ nào với các địa điểm xuất hiện trong quá khứ và tương lai.

       Bởi vậy, một trong những tiêu chuẩn đơn giản để một người tự khẳng định bản thân đã chứng ngộ vô ngã (thành Phật) là kiểm tra tính “ở đây và bây giờ” của ý thức mình. Các vị Phật xưa nay luôn khẳng định rằng, nếu một người tiếp nhận sự vật xung quanh mình như thể sự phản chiếu qua gương thì bản thân sẽ trở nên ung dung tự tại trước mọi hoàn cảnh. Điều này được coi là niềm phúc lạc vô điều kiện.

       Trạng thái nhận biết sự vật bằng tâm thức là một trong những điều bí ẩn nhất mà con người có thể chứng đạt. Nó đòi hỏi một quá trình tu luyện lâu dài, bền bỉ và đúng cách.

        Tính tuyệt đối của thực tại vật lý

       Dễ thấy rằng, con người nhận biết và đánh giá mọi sự vật trên cơ sở ngôn ngữ nhị nguyên. Các đặc trưng định tính của sự vật thường được phân chia thành hai mức tương phản nhau, thậm chí đối kháng nhau. Điều này làm cho mỗi người luôn có “thái độ” chọn lựa hoặc đánh giá hầu như trước bất kỳ một sự vật nào. Cũng vì vậy mà mỗi người thường nhìn nhận thế giới sự vật một cách rời rạc, chia chẻ, chủ quan và có thể gây cho bản thân sự khổ đau vô ích. Như vậy, thực tại vật lý hiện ra trước mắt mỗi người bình thường một cách tương đối, muôn hình muôn vẻ.

       Nhưng theo các tư liệu tâm linh, thực tại vật lý có thể xuất hiện trước mắt các vị Phật một cách tuyệt đối và cùng dạng. Tính “tuyệt đối” của thực tại vật lý được nhận biết bằng tâm thức và thể hiện bởi hai đặc điểm sau đây:

       · Mọi sự vật được tiếp nhận trong một tổng thể duy nhất, phi chọn lựa, phi đánh giá và phi dấu vết;

       · Thực tại được tiếp nhận tuyệt đối như nhau bởi các cá nhân khác nhau.

       Vì sao có điều đó? Các nhà tâm linh cho biết rằng, không ai có thể mô tả được sự cảm nhận siêu việt của một vị Phật vì Ngài nhận biết thực tại qua tâm thức một cách phi dấu vết, còn trong thời gian đó tâm trí dừng hoạt động. Chỉ có thể tìm hiểu quá trình đó bằng suy diễn.

       Như trong phần 4 đã chỉ ra, ngoài thân vật lý, con người còn có 2 thành phần cơ bản khác là tâm trí và tâm thức, trong đó yếu tố thứ ba có vai trò đặc biệt mà chỉ các vị Phật biết rõ. Người ta ví sự nhận biết thực tại bằng tâm thức cũng giống như sự phản chiếu cảnh vật bởi mặt hồ lặng sóng trong điều kiện trời quang mây tạnh. Sự phản chiếu như vậy sẽ tạo nên chuỗi hình ảnh trung thực. Nhưng khi mặt hồ bị lay chuyển bởi ảnh hưởng bên ngoài như mưa, gió, chấn động... thì độ trung thực phản chiếu của nó sẽ giảm sút. Trong trường hợp này chuỗi hình ảnh phản chiếu sẽ bị bóp méo ít nhiều tuỳ thuộc vào mức độ gợn sóng của mặt hồ. Chính ảnh hưởng “gợn sóng” đó có vai trò như sự tác động của tâm trí con người gây “tạp nhiễu” trong khi tâm thức chứng kiến thực tại. Nhìn bề ngoài, có vẻ như tâm trí thay thế vai trò của tâm thức để “chứng kiến” sự vật.

       Nói một cách ngắn gọn, các vị Phật có thể nhận biết thực tại bởi yếu tố tâm thức tương đồng nhau, còn những người thường - bằng các yếu tố tâm trí khác nhau.

        Khái niệm về “băng thực tại”

       Hầu hết mọi người dễ dàng hiểu được ý nghĩa khi nói về “băng sóng”. Nhưng có lẽ lần đầu tiên chúng ta đề cập đến khái niệm “băng thực tại” với nội dung tương tự. Sự khác nhau chỉ là ở chỗ: trong khi “sóng” là một hình thức truyền tải năng lượng, thì “thực tại” là một hình thức tồn tại năng lượng (cần lưu ý các vật thể chỉ là những khối năng lượng dày đặc).

       Chúng ta biết rằng, con người nhận biết được thực tại hữu hình chủ yếu nhờ 5 giác quan vật lý là thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác và vị giác. Bộ não đóng vai trò trung tâm điều khiển, tiếp nhận, lưu trữ, xử lý, và hiển thị thông tin. Nếu khảo sát một cách toàn diện sẽ thấy rằng, con người thực chất là một “cỗ máy nhận biết” có thể được hiệu chỉnh ở những băng thực tại khác nhau, mỗi băng ứng với khả năng nhận biết một hoặc một số chiều thực tại kế tiếp nhau. Ví dụ, hầu hết chúng ta chỉ có băng thực tại vật lý, tức là chỉ nhận biết bình diện vật lý. Nhưng thực tế và lý thuyết đã chỉ ra rằng, bằng con đường bẩm sinh hoặc rèn luyện phù hợp (thiền, xuất thần, khai mở luân xa, thôi miên), băng thực tại của mỗi cá nhân có thể được mở rộng, thậm chí có thể “phủ” đồng thời vài ba chiều thực tại. Khi đó khả năng nhận biết của con người sẽ tăng lên. Khoa học chưa bao giờ thừa nhận sự kiện đó, cho dù các hiện tượng tương tự xuất hiện ngày càng nhiều trên khắp thế giới.       

       Ngoài bình diện vật lý, cho đến thời điểm này khoa học chưa thừa nhận các bình diện vật chất vô hình khác. Một phần nguyên nhân có thể có nguồn gốc từ “luật đám đông”. Bởi vì tuyệt đại đa số loài người trên Trái Đất chỉ có băng thực tại vật lý, còn số người có băng thực tại mở rộng hơn chiếm tỷ lệ quá ít, nên chưa đủ sức thuyết phục. Một lý do khác nằm ở nền tảng của sự tin cậy. Trước đây, nếu cứ giả định là có một chiều thực tại vô hình thì người ta không thể hiểu được thực chất của nó là gì, vật chất hay phi vật chất. Thuyết vũ trụ đa chiều được đề xuất trong cuốn sách này đã đề cập đến bình diện tâm thức chính là nền tảng vật chất chung cho tất cả các chiều thực tại, đồng thời đã chỉ rõ nó có vai trò động lực toàn năng tạo nên sự tiến hoá của vũ trụ nói chung và sự sống nói riêng. Như vậy, bình diện vật lý và các bình diện năng lượng đều có nền tảng vật chất như nhau, tất cả chúng đều được sinh ra từ một nguồn vật chất vô tận và vĩnh cửu là bình diện tâm thức.  

        Kinh nghiệm tâm linh cho biết rằng, những người có băng thực tại mở rộng có thể thuộc các dạng khác nhau. Một số có khả năng dịch chuyển tri giác từ chiều thực tại này qua chiều thực tại khác. Khi đó, chiều thực tại hiện hành sẽ được nhận biết rõ nét nhất (điều này đặc biệt đúng đối với những người xuất thần sau khi rời bỏ thân vật lý). Số khác có băng thực tại mở rộng đồng thời, tức là có thể cùng lúc nhận biết hai hoặc nhiều chiều thực tại v.v...

       Chúng ta hy vọng rằng, trong một tương lai gần sẽ có nhiều người đạt được sự mở rộng băng thực tại của mình nhờ tập luyện hoặc tác động tâm linh. 

 

                                                                                  Nguyễn Hiếu  (Sưu tầm và giới thiệu)




Bản để in Gửi mail cho bạn
 
Các tin khác
  VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần cuối (17/06/2008)
  VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ 10 (15/06/2008)
  Không Nước Không Trăng - 5 (23/05/2008)
  Không Nước Không Trăng - 4 (05/04/2008)
  Không Nước Không Trăng - 3 (10/03/2008)
  Suy diễn từ nguyên lý đột sinh (09/03/2008)
  Về nguyên lý đột sinh (08/03/2008)
  Không Nước Không Trăng - 2 (06/03/2008)
  Không Nước Không Trăng - 1 (05/03/2008)
  OSHO: "Không Nước - Không Trăng" (04/03/2008)
Name: 
Address: 
Country: 
Phone number: 
Email:  
Content: