Phần thứ tám
CÁC BÍ ẨN
TÔN GIÁO
Người ta thường hiểu từ “tôn giáo” là hình thái ý thức xã hội, gồm những quan niệm dựa trên cơ sở niềm tin và sự sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng những lực lượng đó định đoạt tất cả, con người chỉ phải phục tùng và tôn thờ. Tuy vậy, mức độ thể hiện niềm tin, sự sùng bái và phục tùng đối với từng tôn giáo có thể khác nhau căn bản và thay đổi theo các giai đoạn. Ví dụ, Phật giáo nguyên thuỷ chỉ đòi hỏi sự thấu hiểu và cố gắng của bản thân mỗi người, không áp đặt niềm tin vô căn cứ và không yêu cầu sùng bái bất kỳ lực lượng siêu tự nhiên nào vì mỗi cá nhân chính là Phật tiềm năng, có thể tự mình thành đạt kết quả.
Dưới đây sẽ xem xét một số yếu tố có liên quan đến các bí ẩn tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo.
NỀN TẢNG CỦA CÁC TÔN GIÁO
Có thể nhận xét khái quát rằng, tất cả các tôn giáo ít nhiều đều đặt nền móng trên những chiều thực tại năng lượng, trong đó Phật giáo có quan hệ gần gũi nhất với bình diện tâm thức. Cách tiếp cận của Phật giáo mang tính gợi mở khách quan và chủ quan, dẫn dắt con người xuyên sâu vào những miền thực tại không nhìn thấy cho đến tận ranh giới vĩnh cửu là bình diện tâm thức. Không thể biết được thực chất của vũ trụ nếu không tìm hiểu Phật giáo. Mặc dù quả vị Phật là mục tiêu cùng tột của một người tu hành, nhưng ngay từ đầu mỗi cá nhân phải tự nhận thức được bản thân mình chính là Phật tiềm năng, không cần phải cầu xin bên ngoài, vị thầy (nếu có) chỉ là người dẫn đường.
Còn nền tảng niềm tin của các tôn giáo khác thường được thần thánh hoá ở những dạng thức rất đặc biệt, đôi khi ít nhiều được hư cấu hoặc tưởng tượng. Có cơ sở để tin rằng, đến một lúc nào đó tất cả các tôn giáo trên thế giới sẽ được quy tụ vào một dạng thức duy nhất, mang tính khoa học và thực sự hiệu quả.
Nếu đi sâu tìm hiểu giáo lý của các tín ngưỡng khác nhau thì sẽ nhận thấy rằng, đa số các tôn giáo có cùng những điểm cơ bản giống nhau về thực chất, chỉ khác nhau về ngôn từ, hình thức thể hiện và có thể bị thay đổi theo thời gian. Sau đây là một vài ví dụ:
· Những người thành đạt quả vị cùng tột của Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo, đạo Sikh v.v... có thực chất hoàn toàn giống nhau, nhưng họ được gọi bằng các tên riêng là Phật, Chúa, Thánh, Minh Sư... Hầu hết mọi người chỉ nhìn thấy sự khác nhau giữa các nhân vật siêu phàm đó bởi tên gọi và tập quán tôn sùng riêng biệt thuộc tôn giáo của họ.
· Mục tiêu cứu cánh của các tôn giáo lớn khi mới xuất hiện chẳng có gì khác nhau. Nhưng sau hàng trăm năm thể hiện trong đời sống, có thể trình độ nhận thức và một số nguyên nhân chính trị - xã hội đã làm thay đổi đường hướng dẫn dắt người tu hành thành đạt chính quả.
· Hầu như tất cả các tôn giáo đều truyền dạy những tín đồ của mình là phải hành thiện và tránh ác, nhưng phương sách thực hiện có thể khác nhau căn bản, đôi khi có thể dẫn đến sự đối đầu hoàn toàn vô nghĩa.
Cũng cần nói thêm rằng, các giáo lý chứa đựng nhiều ngôn từ xưa nay lẫn lộn, rất rườm rà, thiếu chính xác, nên dễ gây hiểu lầm. Ví dụ, nếu trong giáo lý đạo Phật chúng ta phân biệt yếu tố “tâm” thành hai khía cạnh khác biệt nhau là “tâm trí” và “tâm thức” thì chân ngôn “Phật là Tâm, Tâm là Phật” sẽ được thể hiện chính xác hơn ở dạng “Phật là Tâm thức, Tâm thức là Phật”. Nhắc lại rằng, để trở thành Phật, mỗi người phải kiên nhẫn tìm được cho mình một phương sách hiệu quả nhằm chuyển dần vai trò “chủ” từ yếu tố tâm trí (hữu ngã) qua yếu tố tâm thức (vô ngã).
Sự ngăn cách giữa khoa học và tôn giáo từ trước đến nay có lẽ là ở chỗ: các đối tượng nghiên cứu của khoa học thuộc chiều thực tại vật lý (hữu hình), còn các đối tượng niềm tin và sùng bái của tôn giáo lại thuộc khu vực thực tại năng lượng (vô hình), nơi không được các nhà khoa học thừa nhận hiện hữu.
Có thể tin chắc rằng, thuyết vũ trụ đa chiều thực tại ở đây và những kết quả rút ra từ đó sẽ là chiếc cầu nối bền vững giữa khoa học và tôn giáo, làm cho hai lĩnh vực này của tri thức nhân loại hợp thành một thể thống nhất trên con đường khám phá mọi bí ẩn của vũ trụ.
CÁC MỨC CHỨNG NGỘ VÔ NGÃ
Như đã chỉ rõ trong phần 5, mỗi cá nhân có thể chứng ngộ vô ngã (thành Phật) khi con trỏ tâm thức trở nên thường trực tại cơ thể năng lượng thứ năm hoặc thứ sáu. Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu tâm linh hiện nay, con người có thể có nhiều cơ thể không nhìn thấy khác ngoài số cơ thể năng lượng đã được nhận diện. Do đó, có thể nói đến nhiều mức chứng ngộ (lớn hơn 3) tuỳ thuộc sự hiện diện thường trực của con trỏ tâm thức ở các cơ thể năng lượng.
Mức thấp nhất chứng ngộ vô ngã sẽ đạt được khi con trỏ tâm thức trở nên thường trực ở cơ thể năng lượng thứ năm. Tiếp đó, khi con trỏ tâm thức của một cá nhân được dịch chuyển đến những cơ thể năng lượng càng tinh tế hơn thì người đó có cảm nhận càng đồng nhất hơn với bình diện tâm thức (có các thuộc tính vô hạn, vĩnh hằng, tĩnh lặng, phi không - thời gian, bất biến, trong suốt, trống rỗng, phi lý trí, phi cảm xúc v.v...). Mối quan hệ đó trong Phật giáo thường được phát biểu ngắn gọn ở dạng chân ngôn “Phật là Tâm thức, Tâm thức là Phật”, còn trong một số tôn giáo khác nó được thể hiện là “Linh hồn ở trong Thượng Đế, Thượng Đế ở trong Linh hồn”. Hai cách diễn đạt này sẽ trở nên đồng nhất nếu chúng ta chú ý rằng: các yếu tố “Tâm thức” và “Linh hồn” có cùng ý nghĩa (xem phần 4), còn các từ “là” và “ở trong” với ngữ cảnh được xét cũng sẽ không có gì khác nhau vì liên quan đến đối tượng siêu việt.
NHỮNG CÂU NÓI BÍ ẨN
Một số vị Phật và vị Thánh đã để lại nhiều câu nói có vẻ nghịch lý mà những người tôn giáo hậu thế cũng không thể hiểu nổi. Sau đây sẽ xem xét một số ví dụ.
Chúa Jesus đồng đại với Abraham? Trong Sách Phúc Âm do Jean ghi lại, Chúa Jesus đã nói “...Trước khi Abraham ra đời, Ta vẫn hiện hữu” (Jean, 8:58).
Điều phi lý trong câu nói này là ở chỗ: Abraham đã sống trước Chúa Jesus hàng ngàn năm. Rõ ràng, nếu hiểu theo cách thông thường thì câu nói của Đức Chúa là sai. Có lẽ Chúa Jesus đã ngụ ý đồng nhất bản thân mình với bình diện tâm thức, khi đó con người - tâm thức vốn tồn tại vĩnh hằng (đây là quan niệm đặc trưng của những người chứng ngộ vô ngã ở mức cao).
Thiên Quốc là gì và ở đâu? Trong Sách Phúc Âm do Luca ghi lại, có một đoạn như sau: “Các người Pha-ri-si hỏi Chúa: ‘Bao giờ Thiên Quốc mới thể hiện?’ Ngài đáp: ‘Thiên Quốc không thể hiện cho người ta quan sát. Không ai có thể nói Thiên Quốc ở đây hoặc ở đó, vì Thiên Quốc ở giữa các ngươi!’” (Luca, 17:20-21).
Trong bốn Sách Phúc Âm của Thánh kinh Tân ước do các tác giả Mathew, Mac, Luca và Jean ghi lại, danh từ Thiên Quốc có mặt thường xuyên. Theo chính Đức Chúa thì Thiên Quốc là của Thượng Đế, là một nơi chốn an bình và vô cùng hạnh phúc mà con người cần phải cố gắng không mệt mỏi để được vào đó. Chúa Jesus đã dùng rất nhiều hình tượng ngụ ngôn để nói về Thiên Quốc, nhưng không ai hiểu được thực chất của Thiên Quốc là gì và nó ở đâu.
Để có thể đưa ra câu trả lời khả dĩ, chúng ta cần chú ý đến 2 chi tiết đặc biệt sau đây theo lời của Đức Chúa:
“Thật, Ta bảo các con, nếu các con không thay đổi và trở nên giống như trẻ thơ, các con không thể vào Thiên Quốc được” (Mathew, 18:3);
“Hỡi các con, vào Thiên Quốc thật là khó. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Thiên Quốc” (Mac, 10:24).
Rõ ràng, trẻ thơ là con người phi bản ngã. Ngược lại, người giàu là cá nhân có ý thức sở hữu rất lớn. Mặt khác, bản ngã của mỗi cá nhân phần lớn phụ thuộc vào mức độ sở hữu. Vì vậy, có thể tin chắc rằng Chúa Jesus đã ngụ ý: một người chỉ có thể vào được Thiên Quốc nếu không có ý thức riêng tư hay vô ngã. Trong trường hợp này thì Thiên Quốc, Niết Bàn và bình diện tâm thức đồng nghĩa.
Điều kiện để vào Thiên Quốc: Một trong những câu nói bí ẩn khác của Chúa Jesus có liên quan đến điều kiện để vào Thiên Quốc: “... Nếu một người chẳng sinh ra lần nữa thì không thể thấy Thiên Quốc” (Jean, 3:3).
Muốn hiểu ý nghĩa của câu này cần phải xuất phát từ thuộc tính “vô ngã” của một vị Phật. Như chúng ta đã biết, một người để trở thành Phật cần phải hoàn toàn vứt bỏ bản ngã của mình. Sau sự kiện đó, cá nhân - vô ngã (vị Phật) sẽ có cảm nhận như một con người mới hoàn toàn. Có lẽ điều này là thực chất mà Chúa Jesus muốn nói tới.
Điều kiện để biết được Đạo: Tác giả của tác phẩm Đạo Đức Kinh là Lão Tử cũng nêu ra một chi tiết tương tự như điều kiện để vào Thiên Quốc nói trên. Ngay ở chương 1, câu C có nội dung như sau:
“Thường không tư dục mới nhận được chỗ huyền diệu của Đạo; thường bị tư dục nên chỉ thấy chỗ chia lìa của Đạo”.
Cần nhận xét rằng, hầu hết những người bình chú Đạo Đức Kinh của Lão Tử đều không thể lột tả được thực chất của câu này vì họ không hiểu bản chất của một vị Phật. Một cá nhân “không tư dục” có nghĩa người đó là vô ngã hay người đó là vị Phật. Toàn bộ vũ trụ và cả vị Phật được gắn kết với nhau thành một thể thống nhất (cái Một) dưới nhãn quan của một người đã chứng ngộ vô ngã. Trạng thái siêu việt này của con người phát sinh từ Đạo hay bình diện tâm thức. Trong khi đó tất cả chúng ta, những người còn có bản ngã hay “bị tư dục”, lại chỉ thấy sự “chia lìa” của mọi sự vật cho dù Đạo vẫn tồn tại khắp mọi nơi.
Phật Thích Ca đã im lặng 49 năm? Vào lúc sắp rời khỏi thế gian, Đức Phật sợ người đời lầm lẫn nên bảo ngài Văn Thù rằng: “Ta trụ ở đời đã bốn mươi chín năm, nhưng chưa từng nói một chữ dạy người”.
Theo truyền thuyết, sau khi chứng ngộ ở độ tuổi 31, Phật Thích Ca đã sống thêm 49 năm nữa. Vì sao trong thời gian đó dù Đức Phật đã thuyết giảng rất nhiều, nhưng Ngài lại khẳng định “chưa từng nói một chữ dạy người”. Điều này hoàn toàn dễ hiểu nếu xem xét dưới góc độ của một người đã chứng ngộ vô ngã. Trong trường hợp đó vị Phật đồng nhất bản thân với yếu tố tâm thức (tuyệt đối im lặng), còn hai yếu tố thể xác và tâm trí chỉ là những công cụ tiện dụng trong đời sống hàng ngày.
Không có ai trên đời này? Trong Kinh Kim Cương dẫn ra lời sau đây của Phật Thích Ca: “Tất cả các chúng sinh mà Như Lai đã nói đến, thực ra chẳng có chúng sinh nào. Vì sao vậy? Bởi vì tất cả những gì có hình tướng đều là giả”. (Kinh Kim Cương đã được Phật Thích Ca nói ra trước sự hiện diện của 1250 tu sĩ, nội dung của nó cực kỳ khó hiểu.)
Nội dung của câu nói này hoàn toàn vô nghĩa dưới nhãn quan của người bình thường. Nhưng với một người đã chứng ngộ vô ngã ở mức cao thì câu nói có ý nghĩa tuyệt đối đúng. Thực vậy, Phật Thích Ca đã thấu hiểu bản chất của Niết Bàn hay bình diện tâm thức, Ngài đã nhận ra các chúng sinh thực chất chỉ như những rôbơt đa chiều đã và đang lầm tưởng tự mình sinh ra mọi thứ cảm xúc và lý trí.
Chẳng đến cũng chẳng đi? Cũng trong Kinh Kim Cương có câu: “Bất kể ai nói rằng Như Lai đến, đứng, ngồi hay nằm đều không hiểu ý nghĩa của giáo huấn Ta. Như Lai là tên gọi người chẳng đi đâu cả, không đến đâu cả”. Nội dung của câu nói này sẽ trở nên rõ ràng nếu chú ý rằng: khác với con người - thể xác, con người - tâm thức hiện hữu vĩnh hằng ở khắp mọi nơi.
Ý nghĩa về cái cười của thiền? Truyền thuyết kể lại rằng, một hôm Phật Thích Ca có ý định trao lại cho môn đệ một điều gì đó cao siêu. Hàng ngàn người gần xa đã kéo đến tụ tập cùng nhau để lĩnh hội.
Khi Đức Phật xuất hiện, Ngài cầm trong tay một bông hoa. Thời gian trôi qua mà Đức Phật vẫn im lặng. Ngài chỉ nhìn vào bông hoa. Mọi người trở nên thấp thỏm. Đột nhiên, có một môn đệ tên là Mahakashyap không thể nào kìm giữ mình được nữa đã phá lên cười rất to. Đức Phật gật đầu ra hiệu cho người đó tới, trao cho ông ta bông hoa và nói với đám đông:
- Ta có sự sáng suốt của giáo huấn về chân lý tối thượng. Tất cả những gì có thể nói ra bằng lời thì ta đã trao cho mọi người. Nhưng bằng bông hoa này, ta trao cho Mahakashyap điều then chốt của giáo huấn đó.
Nội dung câu chuyện trên đây có ý nghĩa rất sâu sắc vì từ đó phát sinh ra truyền thống của thiền (zen): Đức Phật là ngọn nguồn, còn Mahakashyap là vị thầy thứ nhất. Ông đã trở thành người đầu tiên nắm giữ điều then chốt của giáo huấn về thiền. Đã có sáu người kế tục lưu truyền ở Ấn Độ cho tới Bồ Đề Đạt Ma. Ông này là người thứ sáu lưu giữ điều then chốt, và ông đã tìm kiếm khắp Ấn Độ, nhưng chẳng thể nào tìm được một người xứng đáng. Bởi vậy, ông đã phải qua Trung Quốc để tìm kiếm người kế tục.
Phật giáo đã vào Trung Quốc cùng với Bồ Đề Đạt Ma trong mối hy vọng tìm kiếm một người để có thể trao được điều then chốt. Trong chín năm tìm kiếm, Bồ Đề Đạt Ma đã gặp được một người Trung Quốc xứng đáng và người đó đã trở thành vị thầy thứ bảy. Và cho đến nay, điều then chốt vẫn không thay đổi, một ai đó vẫn đang nắm giữ nó.
Vậy cái cười của Mahakashyap hàm chứa ý nghĩa như thế nào? Cái cười của Mahakashyap có thể đã mang nhiều ẩn ý sâu xa. Trước hết, ông cười vào cái đần độn của toàn bộ tình huống, cười vào việc Đức Phật im lặng mà chẳng ai hiểu được Ngài, ai cũng trông đợi Ngài nói. Toàn bộ cuộc đời của Đức Phật đã nói lên rằng, chân lý tối thượng không thể được nói ra mà phải được trải nghiệm, thế mà vẫn có nhiều người cứ trông đợi Ngài nói. Tiếp đến, ông cười vào cả Đức Phật nữa, chính Ngài đã tạo ra một tình huống đầy kịch tính, làm cho mọi người cứ thấp thỏm và căng thẳng. Và cuối cùng, ông cười vào chính bản thân mình. Sao trước đây mình không hiểu được? Ông đã hiểu cái gì? Ông hiểu rằng chẳng có gì phải hiểu, chẳng có gì cần nói ra, chẳng có gì phải được giải thích. Toàn bộ vấn đề thật dễ dàng và đơn giản, chẳng có gì bị che giấu bên trong nó. Không cần phải tìm kiếm, vì sự tồn tại toàn bộ đều ở đây và bây giờ, bên trong mỗi người. Đến ngày mà một người hiểu ra chân lý tối thượng đó thì anh ta sẽ cười to, vì chẳng có gì đơn giản hơn thế. Không có khó khăn nào phải giải quyết. Mọi thứ bao giờ cũng trong suốt và rõ ràng. Làm sao người ta có thể không hiểu được?
Điều then chốt mà Đức Phật đã truyền trao là gì? Nó được giải mã là sự im lặng và cái cười - im lặng bên trong và cái cười bên ngoài. Khi cái cười bật ra từ sự im lặng bên trong thì đó không phải là điều trần tục, nó là một điều thiêng liêng. Khi đó con người cười vào toàn bộ trò đùa của vũ trụ. Còn cái gì khác có thể là chuyện đùa hơn thế? Mỗi con người tự thân như là vua mà lại hành động hệt như kẻ ăn mày. Mỗi con người có một nguồn tất cả mọi tri thức mà luôn đặt ra hết câu hỏi này đến câu hỏi khác. Mỗi con người có cái bất tử bên trong mà lại sợ hãi và hoảng hốt về cái chết thể xác. Mỗi con người mang theo mình nguồn phúc lạc lớn lao mà trong nhiều kiếp sống không hề nhận ra.
Có hai thành phần của điều then chốt. Thành phần thứ nhất là sự im lặng bên trong - im lặng sâu sắc đến độ không còn vọng động nào trong con người, tâm trí và cảm xúc của con người thư thái, phẳng lặng như mặt hồ không một gợn sóng; trong trường hợp đó con người tiếp cận tới trung tâm của mình, đó chính là yếu tố tâm thức. Tại trung tâm, con người sẽ trở nên vô cùng phúc lạc.
Thành phần thứ hai của điều then chốt là cái cười, nó thuộc phần ngoại vi. Khi bên trong một cá nhân là sự im lặng sâu sắc (không kìm nén) thì cái cười bên ngoài của người đó trở nên lễ hội. Đây là sự vui nhộn và im lặng.
Con người có thể trở nên tĩnh lặng nhờ thiền. Thiền có nghĩa là chứng kiến, bất kỳ điều gì mà con người thực hiện với sự chứng kiến thì đều là thiền. Nhưng thiền không dẫn con người đến im lặng. Nó chỉ tạo ra tình huống mà trong đó sự im lặng có thể xảy ra bất thần. Một người chỉ có thể trở nên chứng ngộ vô ngã khi sự im lặng đã đi tới lễ hội. Sự im lặng như vậy sẽ trở thành cái cười. Đó là trạng thái của một vị Phật, người thức tỉnh.
Thế gian này là một giấc mộng? Những người đã chứng ngộ vô ngã thường nói rằng: thế gian này là một giấc mộng triền miên. Cần phải hiểu ý nghĩa của câu này như thế nào? Dễ thấy rằng, dưới nhãn quan của những người bình thường như chúng ta, mọi thứ đều diễn ra rất thực. Không một người có lý trí tỉnh táo nào lại tin vào tính “mộng” của mọi thứ xảy ra xung quanh mình trong khi thức.
Tồn tại nhiều cách lý giải về phát biểu trên đây. Nhưng có lẽ chỗ dựa chủ yếu cho lời giải đáp đúng đắn phải xuất phát từ những điều bản chất hiện hữu ở một vị Phật.
Như trên đã nói đến nhiều lần, một người đã chứng ngộ vô ngã luôn sống trong một trạng thái đồng nhất bản thân mình với cái Một, không có cảm nhận sự chia lìa giữa các sự vật. Các vị Phật coi đây là trạng thái tuyệt đối và đích thực mà con người có thể rơi vào nhờ một quá trình tu luyện kiên trì trong nhiều kiếp sống. Trạng thái này không phụ thuộc vào từng cá nhân cụ thể, nó là chung cho tất cả những người đã chứng ngộ vô ngã. Vì vậy, các vị Phật coi những gì mà họ đã trải qua trước khi chứng ngộ chỉ là “mộng”.
Một khía cạnh khác nữa cũng cần được diễn giải bổ sung. Sau khi chứng ngộ vô ngã, vị Phật trở thành con người tỉnh thức - có ý thức sáng tỏ trong suốt 24 giờ mỗi ngày, kể cả trong khi ngủ. Còn trước khi chứng ngộ vô ngã, mọi hoạt động và hành vi của con người không ít khi diễn ra một cách máy móc, vô ý thức, tâm trí thiếu tập trung, dù thức nhưng tâm trạng có thể vẫn cảm thấy mơ hồ. Điều này thực chất là trạng thái “mộng” nếu so sánh với trạng thái “tỉnh thức” của một vị Phật.
(Xem tiếp phần 9)
Nguyễn Hiếu (Sưu tầm và giới thiệu)