Phần thứ bảy
CÁC SINH THỂ
NĂNG LƯỢNG
Từ hàng ngàn năm nay, một phần nhân loại đã tin tưởng sâu sắc vào sự tồn tại các sinh thể không nhìn thấy (có nhiều tên gọi ứng với các dạng khác nhau: sinh thể vô hình, vong linh, ma, quỷ, thần, tiên, sinh thể sóng...). Thậm chí, một số nhà khoa học nổi tiếng cũng nghiêng về giả thuyết hiện hữu các sinh thể mà giác quan của người bình thường và máy móc tinh vi nhất hiện nay chưa thể phát hiện ra. Và cũng chưa có một lý thuyết nào đề xuất cơ sở phù hợp mà dựa vào đó có thể lý giải một cách logic vô số hiện tượng đã được ghi nhận. Thuyết vũ trụ đa chiều thực tại được đưa ra trong cuốn sách này cho phép khả năng phát sinh sự sống ở bất kỳ chiều năng lượng nào. Tiếp theo sẽ gọi các sinh thể giả định đó là sinh thể năng lượng.
Sự sống là gì?
Trong phần 3 chúng ta đã bàn luận về sự sống vật lý của thế giới hữu hình. Như đã biết, đặc tính cơ bản của một sinh vật là khả năng trao đổi chất, sinh trưởng, phát triển, sinh sản và cảm ứng. Tế bào là cấu trúc cơ sở của mọi sinh vật, ngoại trừ virus sống ký sinh trong tế bào một sinh vật khác.
Rất có thể là sự sống vật lý và sự sống năng lượng khác nhau một cách căn bản. Khoa học cho đến nay hoàn toàn chưa đề cập tới sự sống tại các chiều năng lượng. Vì vậy, cần có một cách nhìn khái quát về sự sống cho tất cả các chiều thực tại của vũ trụ.
Nói một cách ngắn gọn, sự sống của một đối tượng nào đó là quá trình mà đối tượng tự tồn tại và tự trao đổi thông tin với môi trường bên ngoài. Một đối tượng như vậy sẽ được gọi là thực thể sống. Sự trao đổi thông tin có thể gồm thu nhận, lưu giữ, xử lý, biến đổi và truyền phát tín hiệu (sóng). Rõ ràng, các vật vô tri vô giác không có khả năng tự trao đổi thông tin, tức là chúng không phải là thực thể sống. Định nghĩa về sự sống trên đây cũng phù hợp với mọi sinh vật vì ngày càng có nhiều dẫn chứng về khả năng giao tiếp của chúng với nhau và với môi trường xung quanh, kể cả các cá thể thực vật.
Bất kỳ một thực thể sống nào cũng phải trải qua hai thời điểm giới hạn: sinh và tử. Điều đáng chú ý là sự tử chỉ là hệ quả tất yếu của sự sinh. Nếu xét ở phạm vi đa chiều thực tại thì sự sinh hoặc sự tử chỉ có nghĩa tương đối. Theo quan niệm luân hồi, khi một vong linh tái sinh vào kiếp sống mới thì thời điểm thụ thai (sinh) tại bình diện vật lý ứng với thời điểm chấm dứt hoạt động sống (tử) tại cõi Trung giới (cõi Âm). Do đó, có thể gọi một thực thể sống là sinh thể (dạng vật lý hay dạng năng lượng).
Như vậy, sự hiện hữu các sinh thể ở một bình diện vật chất nào đó đồng nghĩa với việc tồn tại các thực thể có khả năng tự trao đổi thông tin. Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt một sinh thể với một đối tượng vô tri vô giác. Về mặt lý thuyết, hoàn toàn có cơ sở để giả định về khả năng xuất hiện các sinh thể ở những chiều thực tại phi vật lý.
Tồn tại sự sống sau cái chết?
Một trong những vấn đề đầu tiên có liên quan đến các sinh thể năng lượng là nền tảng vật chất và chứng cứ về sự tồn tại của chúng, trước hết là sự sống sau cái chết của con người. Nói cụ thể hơn, nếu một người từ trần thì liệu một phần còn lại của hệ thống các cơ thể năng lượng (vong linh) của người đó có tiếp tục sự sống? Nếu có thì khả năng cảm xúc và trí tuệ sẽ ở mức độ nào? Dựa vào đâu để giải thích hiện tượng đó? Các chứng cứ có sức thuyết phục? Cách giao tiếp với các sinh thể năng lượng? v.v...
Để trả lời những câu hỏi trên đây và hàng loạt câu hỏi khác tương tự, chúng ta cần phải duy trì một cách nhìn toàn diện và khách quan đối với vấn đề đặt ra. Khả năng tồn tại các sinh thể năng lượng sẽ được xem xét từ những hiện tượng gần gũi nhất đối với đời sống con người.
Hiện tượng luân hồi: Theo Phật giáo và quan niệm dân gian, sự sống của một người không chấm dứt hoàn toàn sau cái chết của người đó. Vẫn tiếp tục tồn tại một thực thể không nhìn thấy (vong linh) với khả năng ý thức, tình cảm và tư duy tựa như một bản sao tâm trí của người đã khuất. Và vong linh đó sau một khoảng thời gian nhất định có thể lại thâm nhập vào một bào thai để tiếp tục cuộc sống mới của con người bằng xương bằng thịt. Quá trình lặp đi lặp lại như vậy được gọi là hiện tượng luân hồi, còn sự đầu thai trở lại của vong linh - hiện tượng tái sinh. Từ hàng ngàn năm nay, các nhà thông thái trên thế giới đã đưa ra rất nhiều ý kiến phản bác hoặc ủng hộ lẫn nhau.
Xung quanh hiện tượng luân hồi hay tái sinh có thể có hai dạng ý kiến chủ yếu: phủ định hoặc có thể chấp nhận. Những người phủ định thường cho rằng, toàn bộ con người đều tập trung ở thân vật lý (thể xác) - mọi thứ có liên quan như cảm xúc, ý thức, tư duy... đều có nguồn gốc từ nó. Bởi vậy, khi thân vật lý chấm dứt hoạt động (chết) thì chẳng còn gì có thể được coi là sự sống tiếp diễn.
Dù vô tình hay hữu ý, những người theo quan điểm phủ định hiện tượng luân hồi và tái sinh thừa nhận các điểm sau đây làm tiền đề:
– Cơ thể con người được cấu tạo chỉ từ dạng vật chất hữu hình và đó chính là thân vật lý (thể xác);
– Cảm xúc, ý thức, tư duy... của một cá nhân phát sinh từ thân vật lý của người đó;
– Con người không có các giác quan đặc biệt;
– Không có chứng cứ xác thực về hiện tượng tái sinh.
Rõ ràng, nếu chỉ thay đổi thái độ đối với ít nhất một trong bốn điểm nêu trên thì tình hình có thể theo chiều hướng khác căn bản. Như chúng ta đều biết, phương pháp tư duy khoa học không cho phép phủ định hay thừa nhận điều gì đó một cách vô căn cứ. Bởi vậy, dạng ý kiến thứ nhất về hiện tượng luân hồi không đủ sức thuyết phục.
Với dạng ý kiến thứ hai sẽ có nhiều cơ hội bàn luận hơn. Các phương tiện thông tin đại chúng (chủ yếu là sách, báo viết) ngày càng đưa ra danh tính của nhiều người có khả năng “ngoại cảm” và họ chấp nhận các thực nghiệm khoa học để kiểm chứng. Tại Việt Nam, trong thời gian hơn chục năm gần đây đã xuất hiện những người có khả năng nhìn thấy và trò chuyện với các vong linh trong quá trình tìm kiếm hài cốt người chết.
Khi nói về sự chết của con người, nhà tiên tri nổi tiếng thế giới người Bungari là bà Vanga (1911-1996), bị mù lúc 14 tuổi, đã cho biết đôi điều đáng chú ý sau đây:
– Bà đã nhìn thấy hình ảnh của các vong linh và nghe thấy tiếng nói của họ;
– Bà đã chứng kiến các vong linh bày tỏ cảm nghĩ của mình cũng như trả lời các câu hỏi được đưa ra;
– Bà tin là sự chết của một người chỉ là chấm dứt tồn tại thể xác, còn nhân cách người đó vẫn tiếp tục sự sống.
Bà Brennan cũng đã ghi lại một vài ý tưởng linh cảm đáng chú ý về sự chết như sau:
“...Chết không phải cái mà chúng ta thường hiểu, mà là sự chuyển tiếp từ trạng thái ý thức này sang trạng thái ý thức khác. Khi ta quên con người thực của mình thì lúc đó ta đã chết... Vì thế, mặc dù ta vốn sợ chết nhưng cái duy nhất chết đi là cái chết”.
Theo thuyết huyền bí, đời sống cõi Trần chỉ là một phần nhỏ của chu kỳ kiếp sống. Chu kỳ này được biểu hiện bằng một vòng tròn sự sống và chết là những nhịp cầu chuyển tiếp giữa cõi Âm và cõi Dương, giữa thế giới hữu hình và thế giới vô hình. Sự chết không làm thay đổi tâm trí con người quá cố: con người khi sống thế nào thì sau khi rời bỏ thể xác vẫn thế ấy. Tri thức, tính tình, đức hạnh và mọi sự xấu tốt của người đó vẫn y như lúc còn sống. Khi qua cõi Âm, vong linh có thể rơi vào một trong bảy cảnh giới (mức độ rung động) với một khoảng thời gian lâu dài hay ngắn ngủi tuỳ thuộc vào tính cách và dục vọng của con người khi còn sống - ở đó cảnh giới thứ bảy rất nặng trọc và khó chịu, còn cảnh giới thứ nhất thanh nhẹ và an bình.
Các nhà nghiên cứu hiện tượng luân hồi đã thu thập được hàng chục ngàn trường hợp có liên quan đến sự tái sinh của con người, trong đó có những sự kiện đã được kiểm chứng một cách chính thức. Để minh hoạ, chúng ta sẽ xem xét dưới đây một trường hợp tái sinh nổi tiếng xảy ra tại Ấn Độ về người đàn bà tên là Shanti Devi, sinh năm 1926 tại Delhi.
Khoảng năm lên bốn tuổi, bé Shanti Devi bắt đầu nói với bố mẹ những câu rất kỳ lạ. Chẳng hạn, bé khẳng định ngôi nhà thật của mình nằm ở thành phố Mathura, cách Delhi khoảng 150 kilômét. Năm lên sáu tuổi, bé Shanti Devi đã trốn khỏi nhà và quyết định đi bộ đến thành phố Mathura tìm kiếm “người thân” nhưng không thực hiện được. Bé Shanti Devi nhớ lại được rằng, trước đây cô tên là Lugdi Devi, đã có chồng tên là Kedar Nath và một con nhưng không thể chăm sóc nó vì sau khi sinh được mười ngày thì cô chết. Cô bé đã kể rất nhiều điều cho những người xung quanh. Tiếng đồn vang xa, một hôm đích thân Gandhi đã đến thăm Shanti Devi. Nhà lãnh đạo Ấn Độ rất quan tâm đến trường hợp này. Ngày 15-11-1935, Gandhi đã gửi Shanti Devi đến thành phố Mathura cùng với cha mẹ, nhiều luật sư, nhà báo, doanh nhân... nhằm mục đích kiểm tra tính chân thực về những thông tin do cô bé kể lại. Tại sân ga Mathura, bé Shanti Devi đã làm cho mọi người sửng sốt vì ngay lập tức đã nhận ra các thành viên của “gia đình” mình và sau đó tỏ rõ nhiều tình tiết xúc động đối với “chồng” và “con” cùng tuổi.
Một uỷ ban điều tra gồm những người có học thức thuộc tầng lớp trên trong xã hội đã làm việc nghiêm túc, tiến hành rất nhiều cuộc xác minh, tập hợp và đối chiếu các thông tin và sự việc. Sau một quá trình khảo sát tỷ mỷ và có trách nhiệm, Uỷ ban này đã đi đến kết luận rằng: Shanti Devi chính là sự đầu thai trở lại của Lugdi Devi.
Trên đây chỉ là một trong vô số các trường hợp tái sinh đã được ghi nhận và xác minh cẩn thận. Nếu toàn bộ con người chỉ tập trung ở thể xác thì không thể xảy ra những trường hợp tương tự, bởi vì sự chết của người này không có mối quan hệ nhân cách liên tục với sự sinh của người khác. Như vậy, hiện tượng luân hồi hay tái sinh đã được xác nhận trong thực tế.
Tinh thần phát sinh từ đâu? Câu hỏi này đề cập đến một vấn đề quan trọng nhất có liên quan đến khả năng tồn tại sự sống sau cái chết của một cá nhân. Từ “tinh thần” được dùng để chỉ tổng thể những cảm xúc, ý nghĩ, tâm trạng, tưởng tượng, ý chí... của con người.
Rõ ràng, nếu toàn bộ vũ trụ chỉ gồm một chiều thực tại vật lý thì câu trả lời sẽ rất đơn giản: tinh thần là do vật chất hữu hình sinh ra, cho nên khi thân vật lý của một người chấm dứt hoạt động (chết) thì tinh thần của người đó cũng sẽ không còn nữa. Nói cách khác, chết là hết. Kết luận này hoàn toàn đúng đắn nếu vũ trụ không bao gồm các chiều thực tại năng lượng (không nhìn thấy).
Nhưng theo thuyết vũ trụ đa chiều thực tại đã xét và các quan sát thực tế thì sự việc diễn ra không đúng như vậy. Như trên đã nói rõ, mọi biểu hiện tinh thần của con người đều có nguồn gốc từ các cơ thể năng lượng, còn bộ não của thân vật lý chỉ đóng vai trò tiếp nhận, xử lý và phản ánh lại ở thế giới hữu hình. Những người thực hành xuất thần thành thạo đã đi đến kết luận khá lý thú: sau khi tách khỏi thân vật lý, cái “tôi” sẽ hiện hữu trong một hệ thống các cơ thể năng lượng cùng với cảm xúc, tư duy, trí nhớ... và tiếp diễn sự hoạt động nhất định của năm giác quan mà nhạy cảm hơn là thị giác, thính giác. Trong thời gian xuất thần, cái “tôi” năng lượng có thể dễ dàng quan sát thân vật lý đang nằm bất động trên giường. Điều đáng lưu ý là mỗi cá nhân có thể tự tập luyện theo một quy trình có sẵn để kiểm nghiệm những gì mà người khác đã được trực tiếp chứng kiến.
Những người có khả năng thị giác đặc biệt (thị giác cao cấp, thần nhãn) còn đưa ra sự mô tả cụ thể hơn. Họ cho biết một số chi tiết sau đây:
– Các cảm xúc bình thường đều bắt nguồn từ thể vía (cơ thể năng lượng thứ hai) và được trung chuyển vào não qua thể phách (cơ thể năng lượng thứ nhất);
– Mỗi ý nghĩ mới đều phát sinh từ thể trí (cơ thể năng lượng thứ ba), tạo thành một hình thể năng lượng tương ứng (hình tư tưởng) tại thể vía, rồi mới kích hoạt não tiếp nhận;
– Tiềm thức, vô thức, mơ mộng, tưởng tượng, ý chí... được hình thành tại thể tâm lý (cơ thể năng lượng thứ tư);
– Khả năng trực giác, những dấu ấn về tiền kiếp... được bao hàm trong các cơ thể năng lượng thứ năm, thứ sáu v.v...
Trên cơ sở các tư liệu thực tế và nhận diện những chức năng của hệ thống các cơ thể năng lượng, có thể rút ra kết luận sau đây: nhân cách của một người vẫn tiếp tục sống sau cái chết thể xác của người đó.
Diễn biến của sự chết: Chết là sự kiện tất yếu đối với bất kỳ ai khi người đó được sinh ra. Rõ ràng, sự sinh và sự chết là hai cực của một tiến trình sống. Với quan niệm “chết là hết” thì diễn biến cái chết của thể xác được hướng vào quá trình chấm dứt hoạt động của những cơ quan cốt yếu như tim, phổi và bộ não. Nhưng cho đến nay vẫn thiếu vắng một phương thức tin cậy để xác định sự chết vật lý, vì vậy đã xảy ra nhiều trường hợp đáng tiếc khi mai táng con người còn khả năng hồi phục sự sống của thể xác.
Dưới góc độ con người là một sinh thể đa chiều, diễn biến của sự chết thể xác sẽ trở nên phức tạp và bí ẩn hơn nhiều vì có liên quan đến hệ thống các cơ thể năng lượng. Vấn đề này hoàn toàn vắng mặt trong khoa học đương đại. Trái lại, các nhà tâm linh từ lâu đã đưa ra sự mô tả khá chi tiết về thời điểm mà thể xác của một cá nhân bắt đầu chấm dứt hoạt động và phần còn lại của hệ thống các cơ thể năng lượng người đó trở thành một thực thể năng lượng độc lập để chuyển sang trạng thái ý thức mới ở một chiều thực tại khác. Sự chết tự nhiên của con người thường diễn ra theo một trình tự nhất định, phù hợp với tính đa chiều của vũ trụ. Nếu ai đó có thái độ “chết là hết” thì chẳng cần đến sự luận bàn phức tạp.
Theo tư liệu tâm linh, vào thời điểm con người rời bỏ bình diện vật lý sẽ có một tia sáng đặc biệt đi ra khỏi luân xa 7 (luân xa đỉnh đầu). Trải nghiệm về sự kiện này thường được mô tả như là đi theo con đường hầm mịt mù giữa cuộc đời trần thế và cõi chết. Cái “tôi” năng lượng sẽ thấy một đường hầm dài tối tăm với ánh sáng chói chang ở đầu cuối, nơi tiếp giáp với một chiều thực tại năng lượng. Thực chất, đây là hiện tượng mà cái “tôi” năng lượng chứng kiến khi đi qua lớp năng lượng phân cách giữa bình diện vật lý và bình diện phi vật lý kề cận (NF1). Chúng ta biết rất ít về lĩnh vực bí ẩn này mặc dù có thể tiến hành nhiều cuộc khảo sát như vậy.
Những người có thị giác đặc biệt đã ghi nhận rằng, thân vật lý và thể phách (cơ thể năng lượng thứ nhất) được liên nối mật thiết với nhau bằng một sợi dây năng lượng có màu chói sáng và nhỏ như sợi chỉ (trong thuyết huyền bí nó được gọi là “sợi chỉ bạc”). Trong lúc con người hấp hối thì “sợi chỉ bạc” vẫn nguyên vẹn. Nhưng vào thời điểm con người từ trần thì nó đứt hẳn, thể phách tách rời khỏi thể xác và thường là không thể phục hồi lại được. Đây là lúc người chết hôn mê, vô ý thức hoàn toàn để cái “tôi” năng lượng rút khỏi thể phách, còn thể vía và các thể năng lượng khác tinh tế hơn bắt đầu lo bảo vệ sự sống của chúng bằng cách sắp xếp lại từng lớp vật chất: lớp nặng trọc bọc ngoài, lớp thanh nhẹ ở trong. Sự thu xếp này ấn định một mức rung động tương ứng của cõi Âm mà vong linh sẽ rơi vào. Bắt đầu từ thời điểm đó, thể xác sẽ mất vai trò tổng thể dù tất cả các tế bào của nó vẫn cố duy trì sự sống và tồn tại một cách riêng biệt. Thể phách cũng mất liên hệ với các cơ thể năng lượng khác và bị tan rã sau một thời gian nhất định. Nói cách khác, sự chết diễn biến như một quá trình trong trường năng lượng. Quá trình chết phụ thuộc vào mức độ tinh khiết của các cơ thể năng lượng cá nhân.
Như trong phần 4 đã nói đến, các cơ thể năng lượng thứ hai (thể vía) và thứ ba (thể trí) có quan hệ mật thiết với thân vật lý. Bởi vậy, sau khi cơ thể năng lượng thứ nhất (thể phách) và thân vật lý chấm dứt sự liên nối với nhau (“sợi chỉ bạc” bị đứt hẳn) thì thể vía và thể trí cùng các luân xa tương ứng bắt đầu bị tan rã. Từ thể xác thoát ra những đám mây năng lượng màu xà cừ hay màu sữa. Đó là phần năng lượng đã được dùng để tạo khuôn cho thân vật lý. Toàn bộ trường năng lượng của người quá cố lúc này bị xáo trộn mạnh mẽ, tất cả các luân xa được thanh lọc và khai mở. Cái “tôi” năng lượng rời bỏ thể xác theo một chiều khác của không gian. Ba cơ thể năng lượng đầu tiên và các luân xa chính tương ứng bị phân huỷ. Các luân xa khác cũng được khai mở thành những lỗ rộng liên thông với các chiều khác của không gian. Cái “tôi” vô hình được tắm gội bởi một khối năng lượng tuôn chảy như suối dọc theo dòng năng lượng thẳng đứng chủ yếu.
Khi mối liên hệ giữa thể xác và thể phách bị cắt rời thì xảy ra quá trình phân rã trường năng lượng người chết. Các ấn tượng cuộc đời tạo nên những tắc nghẽn trong trường năng lượng của mỗi cá nhân, làm cho con người quên lãng cái “tôi” thực của mình. Việc giải toả những tắc nghẽn đó sẽ gây cho cái “tôi” người chết trải nghiệm các sự kiện đáng nhớ đã qua theo một chiều không - thời gian co nén. Con người vẫn giữ lại cái “tôi” của mình sau khi từ giã bình diện vật lý. Trải qua một thời gian hôn mê nhất định, dù cái “tôi” năng lượng chỉ là tổ hợp các hạt ánh sáng, nhưng nó bắt đầu cảm nhận được bản thân một cách rõ rệt ở một chiều thực tại phi vật lý.
Đời sống của các vong linh: Có rất ít các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này dù đây là một khía cạnh rất hệ trọng đối với nhân loại. Không thể không nói đến đời sống của các vong linh nếu sự sống con người vẫn tiếp diễn sau sự chết của thân vật lý. Thuật ngữ “vong linh” được dùng để chỉ cái “tôi” năng lượng của người quá cố. Sự mô tả về đời sống của các vong linh sẽ được xem xét một cách khái quát trên cơ sở thuyết vũ trụ đa chiều thực tại và các nguồn tư liệu tâm linh đã được công bố, đặc biệt là vào những năm gần đây.
Như trên đã chỉ ra, sau khi thể xác dứt bỏ khỏi thể phách thì hệ thống các cơ thể năng lượng của người quá cố bắt đầu có sự tái tạo lại. Tất cả những thành phần năng lượng làm khuôn dạng cho thân vật lý đều bị phân huỷ. Nhiều thông tin về cuộc sống đã qua của người chết vẫn được lưu giữ lâu dài trong những cái được gọi là “phần tử trường tồn” của thể xác, thể vía và thể trí tương ứng. Chất liệu “nhìn thấy” đối với các vong linh được tạo thành từ vật chất của bình diện NF1 (cõi Âm hay chiều thực tại kề cận bình diện vật lý). Những người có thị giác đặc biệt thường “nhìn thấy” các vong linh với hình dạng người quá cố vào thời điểm từ trần. Ví dụ, hình dạng của vong linh người già là ông già hoặc bà già, vong linh của người bị chặt đầu sẽ được nhìn thấy không đầu, vong linh của một thanh niên đã chết cách nay mấy chục năm sẽ hiện ra tựa như ảnh chụp trước thời gian chết v.v...
Theo thuyết huyền bí, cõi Âm được phân chia thành 7 lớp năng lượng với mức tần số rung động khác biệt nhau. Mỗi lớp được gọi là một “cảnh giới”. Người ta gán số thứ tự cho các cảnh giới theo mức tần số rung động giảm dần của chúng - cảnh giới với mức tần số rung động cao nhất được gán số 1, tiếp theo là cảnh giới thứ 2... và cuối cùng là cảnh giới thứ 7 ứng với mức tần số rung động thấp nhất. Nhiều tôn giáo coi cảnh giới thứ 7 là tầng “địa ngục”. Các vong linh bị rơi vào cảnh giới này sẽ chịu nhiều khổ não nhất vì ở đây tập trung vô số rung động đa tạp là khát vọng về tham, sân, si mà thực tế sẽ không bao giờ được thoả mãn trực tiếp do họ không còn thân vật lý. Các vong linh ở tại những cảnh giới với rung động cao hơn cảm thấy sự thanh nhẹ và an bình. Tâm đức và lý trí của người quá cố khi ở cõi Trần có vai trò quyết định cảnh giới nào của cõi Âm mà vong linh đó sẽ tồn tại bước đầu.
Theo William Buhlman, các vong linh vẫn có 5 giác quan như chúng ta, trong đó thị giác và thính giác được sử dụng thường xuyên hơn. Điều đặc biệt là các vong linh còn có khả năng đọc được ý nghĩ và nhận biết được cảm xúc của nhau mà không cần ngôn ngữ; các vong linh có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác bằng cách đi, chạy, bay hoặc ước muốn (cách sau cùng là nhanh nhất). Các vong linh cũng có thể truyền trao tình cảm yêu thương cho người sống.
Theo thuyết huyền bí, sự sống của các vong linh có thể được chuyển đổi vào cảnh giới cao hơn nhờ việc dứt bỏ dần những tư tưởng và xúc cảm dục vọng về tham, sân, si. Đây chính là quá trình tinh khiết hoá của các vong linh để chuẩn bị cho một chu trình tái sinh mới.
Một số nguồn tư liệu cho thấy rằng, các vong linh dường như cũng được tổ chức một cách có hệ thống từ cao đến thấp. Việc tìm hiểu các mối quan hệ đa dạng và những tác động phức tạp lẫn nhau giữa cõi Âm và thế giới chúng ta sẽ có vai trò cực kỳ quan trọng đối với cả hai phía, đặc biệt là trong điều kiện nền khoa học kỹ thuật đang phát triển mạnh mẽ và đời sống vật chất của con người tăng lên không ngừng.
Nhiều khía cạnh liên quan đến thế giới các vong linh vẫn còn chưa được giải đáp. Sau đây là một số ví dụ:
– Có tồn tại các cấp chính quyền và chính phủ thuộc cõi Âm hay không?
– Sự ảnh hưởng qua lại giữa cõi Âm và bình diện vật lý?
– Các vong linh sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình?
– Việc cư trú và quan hệ của các vong linh như thế nào?
– Vì sao các vong linh rất coi trọng hài cốt của mình?
– Sinh hoạt hàng ngày của các vong linh?
– Các gia đình và mối quan hệ thân thuộc kiểu vật lý có còn tiếp tục sau khi chết?
– Các vong linh có sử dụng thức ăn phi vật lý và thực sự có cần thiết hay không?
– Có tồn tại giới tính của các vong linh theo kiểu vật lý?
– Trẻ con tại cõi Âm trưởng thành như thế nào? v.v...
Rõ ràng, không thể có nhiều thông tin về đời sống của những cư dân thuộc cõi Âm khi mà hầu hết các nhà nghiên cứu tâm linh chưa có phương sách đúng đắn trong việc tìm hiểu và hệ thống hoá những gì có liên quan đến sự sống tiếp diễn sau cái chết của con người. Có thể hy vọng trong một tương lai gần, các nhà khoa học sẽ thừa nhận và áp dụng rộng rãi những cách truyền thống giao tiếp với cõi Âm để khảo sát toàn diện sự hoạt động sống của những người anh em vô hình trong một chiều thực tại kề cận thế giới vật lý của chúng ta.
Các sinh thể có hình bóng
Các vong linh là sinh thể năng lượng thuộc loại có hình bóng. Những người với thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy chúng một cách mờ ảo. Chúng ta chưa thể biết chính xác “hình bóng” như vậy là thực có hay chỉ là sự hiển thị tín hiệu tựa như trên máy thu hình. Dĩ nhiên, hình bóng của sinh thể năng lượng và hình dạng vật lý của con người chắc chắn khác nhau một cách căn bản.
Quả là vô cùng khó khăn khi bàn về các sinh thể năng lượng nói chung. Không thể không dựa vào các tư liệu đã biết do những người có khả năng đặc biệt thuật lại. Trong số đó phải kể đến nhà tiên tri Vanga, một người đàn bà mù hoàn toàn nhưng đã “nhìn thấy” hình bóng của các sinh thể năng lượng xung quanh mình.
Vào một ngày hè năm 1979, khi cảm thấy tâm trạng hứng khởi tuyệt vời, bà Vanga cho biết những chi tiết sau đây:
“Tôi nhìn thấy họ gần một năm nay. Họ trong suốt. Trông họ như bóng người trong nước. Tóc họ mềm như lông vũ và bao quanh đầu họ thành một cái gì đó tựa như vầng hào quang. Đằng sau lưng có cái gì như đôi cánh. Thường khi về nhà tôi rất hay bắt gặp họ trong phòng mình. Khi chưa vào đến ngưỡng cửa tôi đã nói chuyện với họ, tôi nghe thấy những âm thanh trải dài, chậm rãi và du dương như thể một dàn đồng ca đang hát thánh thi.
Họ nói rằng, họ bay tới từ hành tinh Vamphim - hành tinh thứ ba gần Trái Đất. Đôi khi một trong bọn họ nắm lấy tay tôi dẫn tới hành tinh của mình...
Họ làm việc rất nhiều, mạch lạc và có tổ chức. Họ nói rằng có rất ít người để có thể qua đó họ thực hiện những mối liên lạc trực tiếp với Trái Đất...
Có lần họ đã dựng trên Trái Đất hai bức tượng hình như là về hai đồng bào đặc biệt xuất sắc của họ. Tôi biết chính xác nơi đó nhưng không thể chỉ cho mọi người. Khi dựng bức tượng, một trong bọn họ nói rằng, có lẽ nên quay bức tượng chếch đi một chút để con người không thể nhìn thấy. Kẻ khác trả lời là đừng lo, vì tất cả người Trái Đất đều mù cả”.
Có thể dẫn ra nhiều ví dụ thực tế đã biết về khả năng tồn tại các sinh thể năng lượng với nhiều dạng hình bóng khác nhau. Điều đó có thể chấp nhận được nếu đứng trên quan điềm về tính đa chiều thực tại của vũ trụ.
Các sinh thể sóng
Sinh thể sóng là loại sinh thể năng lượng phi hình dạng dưới góc độ giác quan đặc biệt của con người. Mỗi sinh thể sóng thực chất là một khối vật chất - sóng có tư duy. Khả năng tồn tại các sinh thể sóng phù hợp với thuyết vũ trụ đa chiều thực tại. Con người có thể nhận biết được sinh thể sóng thông qua sự đối thoại trực cảm (tiếp nhận thông tin trên cơ sở các câu hỏi và câu trả lời ở dạng ý nghĩ). Hiện thời, chỉ các nhà ngoại cảm mới có khả năng giao tiếp được với sinh thể sóng. Sau đây là một số nội dung đáng chú ý đã được ghi nhận liên quan đến các sinh thể sóng.
Qua nhà ngoại cảm Jack Pursel - Các sinh thể sóng thuộc “tầng trời cao” tự mô tả mình như một hiện tượng bành trướng và thu hẹp liên tục về năng lượng (ý thức). Mỗi cá thể được biểu hiện như một điểm loé sáng hay một tia loé về ý thức. Sinh thể sóng “hoạt động” bằng việc bành trướng ý thức của mình, thu thập thông tin, nâng cao khả năng nhận biết xuyên suốt, tích luỹ các dao động và biến đổi chúng thành năng lượng cần thiết. Giới hạn của mỗi cá thể hoàn toàn bất định (tại mỗi thời điểm có mặt ở khắp nơi và đồng thời chẳng xác định ở đâu cả).
Các sinh thể sóng luôn sáng tạo ra tư tưởng và truyền phát vào những chiều thực tại khác theo mọi phương hướng. Với những chiều thực tại dày đặc hơn, đặc biệt là chiều vật lý, tư tưởng được nén lại để thích ứng với sự rung động giác quan của các đối tượng tiếp nhận.
Các sinh thể sóng cùng loại tương tác với nhau trong im lặng thông qua truyền trao tư tưởng trực cảm.
Qua nhà ngoại cảm Dawn Hill - Một dạng sinh thể sóng khác cho biết rằng, tần số cộng hưởng mà nó sử dụng không thể phù hợp với các giác quan vật lý của con người. Để người Trái Đất có thể bắt được tần số như vậy, cần có 15-20 mắt xích biến đổi. Tính tương đối của thời gian không hiện hữu ở nhiều cõi thực tại khác. Tất cả đều là “hiện tại”.
Qua nhà ngoại cảm Ruth Norman - Một sinh thể sóng cũng nói đến sự khác biệt giữa băng tần số của nó và băng tần số của các giác quan vật lý. Vì vậy, cần phải sử dụng một công cụ đặc biệt cho mục đích giao tiếp giữa các cõi khác nhau. Công cụ như vậy chính là nhà ngoại cảm. Họ có khả năng bắt được tần số rất lớn.
Qua nhà ngoại cảm Gabriel Wittex - Một dạng sinh thể sóng cho biết rằng, vũ trụ chứa đầy trí tuệ. Một số trí tuệ đã được biểu hiện. Số khác chưa được biểu hiện, nhưng chắc chắn cuối cùng không một trí tuệ nào là không được biểu hiện.
Qua nhà ngoại cảm Arthur Findlay - Sinh thể sóng này thừa nhận là trong bình diện vật lý, nó chỉ chọn ý thức tương ứng với một băng tần số tương đối thấp. Trong lúc đó, tại cõi ête (ở đây cũng có sự sống) thì ý thức lại tương ứng với một băng tần số cao hơn. Ở cõi ête này, sự sống cũng đủ khả năng hoạt động khi được giải phóng khỏi vật chất dày đặc cũng như khi phải mặc cái áo vật lý.
Nhà xuất thần William Buhlman đã mô tả sự cảm nhận đặc biệt sau đây khi ở trong cơ thể năng lượng thứ năm (trạng thái tựa sóng): “Tôi hiểu ra rằng, tôi không có hình dạng nào cả. Tôi dường như giống ánh sáng mà không có dạng phân biệt bên ngoài. Cái nhìn của tôi là vô tận”.
Tại một phiên xuất thần vào ngày 7 tháng 12 năm 1992, ông cũng đã gặp một sinh thể sóng và đã diễn ra sự tiếp nhận thông tin bằng trực cảm sau đây:
Sinh thể sóng - Tôi không có hình dạng như bạn vẫn tưởng. Hình dạng là không cần thiết... Mọi năng lượng có ý thức đều sống trong tần số năng lượng cùng pha với tỷ lệ rung động cá nhân của họ... Tất cả chúng ta đều đang cùng trong cuộc hành trình vĩ đại. Tôi cũng như những đứa trẻ nếu so sánh với những người khác, những người đã đi sâu vào trong vũ trụ. Sự tiến hoá có thể của sinh linh là vô giới hạn...
Giới hạn của trí tuệ
Qua lý thuyết và thực tế có thể tin rằng, ngoài dạng trí tuệ hiện hữu ở con người như hiện nay, còn có các dạng trí tuệ khác tinh tế và kỳ lạ hơn. Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào sự thực, không nên quá lãng phí thời gian vô ích trong việc tranh cãi bất tận và nắm giữ những triết lý cực đoan vô căn cứ. Các đạo sư từ hàng ngàn năm nay đã có những trải nghiệm tâm linh phong phú và luôn lưu ý rằng, điều bản chất của Tự nhiên không bị giấu kín, nó luôn được phơi bày khắp mọi nơi, sở dĩ mọi người không nhận ra vì hầu hết họ ngắm nhìn sự vật bằng một tâm trí hạn hẹp và khép kín.
Không loại trừ khả năng sự sống ở các chiều thực tại năng lượng cũng được tổ chức một cách chặt chẽ, có “nhân vật” đứng đầu cùng với một bộ máy điều hành mọi hoạt động cần thiết. Có lẽ cộng đồng “cư dân” ở mỗi bình diện vật chất vô hình luôn tự cho mình là đại diện cao siêu nhất của vũ trụ vì họ không thể nhận thức được những bình diện vật chất tinh tế hơn. Và sự ảnh hưởng của họ đến loài người có thể là nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh nhiều dạng tôn giáo.
Các dạng trí tuệ có thể có mức thể hiện và sáng tạo tư duy khác biệt nhau ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Nhưng con người ở bình diện vật lý cũng có những điều kiện đặc thù mà các sinh thể năng lượng không có. Cuộc sống trần thế sớm hay muộn cũng sẽ dẫn dắt nhiều người đến sự bức bách tìm kiếm lối thoát tâm linh. Có lẽ duy nhất con người ở bình diện vật lý mới hội đủ điều kiện để trở thành dạng trí tuệ siêu đẳng - vị Phật. Các đạo sĩ từ lâu đã có nhận xét rằng, trong số các chúng sinh của vũ trụ thì chỉ các vị Phật mới đủ khả năng thấu triệt chân lý tối thượng sau đây: Toàn bộ sự sống nói chung đều có bản thể là bình diện tâm thức, chính chiều thực tại này đóng vai trò “linh hồn” của mỗi sinh thể và của cả vũ trụ.
[Xem tiếp Phần 8]
Nguyễn Hiếu (Sưu tầm và giới thiệu)