- Phần thứ sáu -
MINH CHỨNG VỀ
BÌNH DIỆN TÂM THỨC
Mặc dù sự hiện hữu bình diện tâm thức được suy ra từ định đề về tính đa chiều thực tại của vũ trụ, nhưng có nhiều sự kiện vật lý và tâm linh dường như là các minh chứng về nó. Sự tồn tại của bình diện tâm thức có vai trò nền tảng đối với cả khoa học, tôn giáo và toàn bộ sự sống trong vũ trụ. Bởi vậy để chúng ta cùng suy ngẫm, dưới đây sẽ chỉ ra một số yếu tố vật lý và tôn giáo hướng về một đối tượng siêu việt nào đó, rất giống với bình diện tâm thức.
Mối liên kết siêu sáng
Các nhà vật lý đang sử dụng cả toán học lẫn thực nghiệm để tìm hiểu sự hiện hữu mối liên kết “siêu sáng” phổ biến tức thì trong cơ cấu vật chất.
Năm 1964, nhà vật lý J.S. Bell đã cho công bố một bằng chứng toán học gọi là định lý Bell. Theo định lý này, các hạt hạ nguyên tử liên kết với nhau một cách phi thời gian và phi không gian, thể hiện ở chỗ bất kỳ điều gì xảy ra cho một hạt cũng tác động đến các hạt khác ngay lập tức. Hiện tại, định lý Bell đã được chứng minh bằng thực nghiệm.
Định lý Bell trái với thuyết tương đối của Einstein vì thuyết này khẳng định rằng, không có hạt nào chuyển động nhanh hơn ánh sáng. Rõ ràng, hiệu ứng mà định lý Bell đề cập đến có quan hệ với một dạng vật chất độc lập với thời gian và không gian. Phải chăng đó là bình diện tâm thức vì chỉ lớp vật chất này tồn tại ngoài không - thời gian?
Con lắc Foucault
Sau đây là kết quả kỳ lạ của một thí nghiệm do nhà vật lý Leon Foucault (người Pháp) thực hiện vào năm 1851. Ông đã cho treo một con lắc (sợi dây dài buộc một vật nặng) vào mái vòm của ngôi đền Pantheon ở Paris. Khi thả cho con lắc chuyển động thì sợi dây quét qua lại trong không khí theo một mặt phẳng dường như hoàn toàn cố định so với tất cả các thiên thể. Nói cách khác, hành trang của con lắc được quyết định bởi toàn bộ vũ trụ. Vậy thì cái gì giữ vai trò liên kết tất cả vật chất có cấu trúc thành một chỉnh thể? Nội dung câu trả lời có lẽ nằm ở các thuộc tính đặc biệt của bình diện tâm thức.
Nghịch lý EPR
Nếu như con lắc Foucault đã chứng tỏ về tính toàn bộ của vũ trụ ở thang bậc vĩ mô, thì nghịch lý sau đây là bằng chứng về điều đó nhưng ở thang bậc vi mô. Vào năm 1930, ba nhà khoa học là Einstein, Podolsky và Rosen (tiếp theo sẽ gọi tắt là EPR) đã đề xuất một thí nghiệm tưởng tượng nhằm mục đích chỉ ra điểm yếu của cơ học lượng tử trong cách lý giải xác suất về các sự vật của thực tại. Giả sử một hạt hạ nguyên tử bị phân rã tự phát thành hai lượng tử ánh sáng (photon) là A và B. Do tính đối xứng, điều chắc chắn là nếu photon A bay theo một hướng xác định nào đó - ví dụ, hướng Đông - thì photon B sẽ bay theo hướng ngược lại - trong ví dụ này là hướng Tây.
Nhưng cơ học lượng tử nói rằng trước khi được thu bởi dụng cụ đo thì photon A có biểu hiện sóng, nên lúc đó không thể có hướng xác định. Chỉ sau khi tương tác với máy dò thì photon A mới biến thành hạt và cho biết là nó bay về hướng Đông. Do hướng bay của photon A không xác định trước khi nó bị thu, nên làm thế nào mà photon B biết trước được hướng bay của A để định hướng quỹ đạo của mình theo hướng ngược lại khi bị thu ở cùng thời điểm với A, thậm chí khi hai photon ở cách xa nhau hàng tỷ năm ánh sáng? Điều này là hoàn toàn vô lý. Từ đó, ba tác giả EPR rút ra kết luận rằng, cơ học lượng tử đã chọn con đường sai lầm vì thực tại không thể được mô tả bằng xác suất.
Nhưng Einstein và các cộng sự đã nhầm. Thí nghiệm trên đây đã được tiến hành nhiều lần và luôn cho kết quả đúng như cơ học lượng tử đã dự đoán. Hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm EPR được gọi là nghịch lý EPR.
Nghịch lý EPR sẽ được sáng tỏ nếu chấp nhận ý tưởng rằng, hai photon A và B đều là bộ phận của cùng một chỉnh thể, chúng liên hệ thường xuyên với nhau thông qua một tương tác bí ẩn phi thời gian và phi không gian. Bởi vậy, mọi sự kiện có liên quan đến photon này đều được photon kia nhận biết ngay tức thời, dường như chúng không cần trao đổi thông tin với nhau. Như vậy, vũ trụ là một thể thống nhất. Cái gì đã tạo nên tính thống nhất đó? Có lẽ câu trả lời cần được tìm kiếm từ bình diện tâm thức.
Tính bất toàn của một hệ thống
Năm 1900, nhà toán học David Hilbert (người Đức) đã đưa ra một thách đố coi tất cả các lĩnh vực toán học đều dựa trên những cơ sở logic vững chắc. Nhà toán học Kurt Godel (người Áo) đã vượt qua được thách đố đó, nhưng không theo hướng mà Hilbert đặt ra. Năm 1931, Godel đưa ra một định lý có lẽ là tuyệt vời và kỳ lạ nhất trong số các định lý toán học. Ông đã chứng tỏ được rằng, một hệ thống số học phi mâu thuẫn chắc chắn sẽ chứa các mệnh đề “không giải được”, tức là không thể bằng logic nói được chúng là đúng hay sai. Mặt khác, không thể chứng minh một hệ thống là phi mâu thuẫn chỉ dựa trên cơ sở các mệnh đề đầu tiên được chấp nhận không cần chứng minh (tiên đề) có trong hệ thống này. Cần phải “ở ngoài hệ thống” và phải đưa ra các tiên đề phụ bên ngoài hệ thống đó. Theo nghĩa này, một hệ thống tự bản thân nó chỉ có thể là không đầy đủ. Vì thế, định lý Godel cũng thường được gọi là định lý về tính không đầy đủ hay định lý “bất toàn”. Nó ngụ ý rằng, có tồn tại những giới hạn đối với sự suy luận logic, chí ít là trong toán học. Nội dung của nó cũng cảnh tỉnh về các “lỗ hổng” của khoa học nói chung. Định lý này được coi là một phát minh logic quan trọng nhất của thế kỷ 20.
Có thể mở rộng định lý “bất toàn” thành luật “bất toàn” với nội dung như sau: chức năng cơ bản của một đối tượng độc lập nào đó sẽ không thể được thực hiện với chính nó hoặc một phần của nó. Có vô số trường hợp thể hiện luật “bất toàn” trong thực tế. Ví dụ: dao sắc không gọt được chuôi, cần cẩu không nâng được nó, gương không soi được bản thân, một cơ cấu quan sát không thấy được mình v.v...
Chúng ta xét một sự kiện mà bề ngoài vi phạm luật “bất toàn”. Giả sử một người A đang quan sát một bông hoa B. Khi ở trạng thái tĩnh lặng thì A dễ dàng có cảm giác đang “nhận biết” (chứng kiến, quan sát) đồng thời cả bản thân và B. Nếu hệ thống các cơ thể là một đối tượng tri giác độc lập thì không thể chứng kiến đồng thời các sự vật xảy ra xung quanh và cả bản thân. Để phù hợp với luật “bất toàn” cần phải giả thiết có thêm một đối tượng thứ ba là C. Ở đây C chính là phần vật chất (năng lượng) của bình diện tâm thức bị giới hạn bởi hệ thống các cơ thể của A, có nghĩa C là yếu tố tâm thức hay “linh hồn” của A. Vì C có tác động như cái gương nên nó “soi” đồng thời cả A và các sự vật xảy ra xung quanh. Tất cả những hiệu ứng do C tạo ra lại được A cảm thụ qua tâm trí như thể tự nó thực hiện. Điều này ít nhiều tương tự với hiện tượng sau đây: khi đứng yên trên sân ga quan sát một đoàn tàu hoả chuyển bánh nhẹ nhàng thì một người có cảm giác như thể tự mình chuyển động, còn đoàn tàu đứng yên.
Niết Bàn
Trong số các tôn giáo lớn tồn tại đến ngày nay thì nền tảng của Phật giáo dựa trên sự tồn tại của một đối tượng siêu việt tựa như bình diện tâm thức. Như đã biết, chữ “Phật” (Buddha) là một danh từ theo Phạn ngữ của Ấn Độ, nó có nghĩa là người tỉnh thức hay giác ngộ, tức là người đã tỏ ngộ được “chân lý tối thượng”. Người đặt nền móng cho Phật giáo là Phật Thích Ca (623 - 543 trước CN). Trước khi thành Phật, Ngài là thái tử Sĩ Đạt Ta, con đức vua Tịnh Phạn thuộc dòng quý tộc Thích Ca, còn họ của Ngài là Cồ Đàm (Gotama).
Theo truyền thuyết, khi lên mười sáu tuổi, thái tử Sĩ Đạt Ta kết duyên với công chúa Da Du Đà La có cùng tuổi với Ngài. Trong ba năm sau ngày hôn lễ, thái tử Sĩ Đạt Ta hoàn toàn sống cuộc đời vương giả, không hay biết nỗi thống khổ của dân chúng bên ngoài cung điện. Tiếp đó, khi một vài lần được chứng kiến cảnh khổ não của con người, Ngài bắt đầu suy ngẫm về sự đời. Và đúng lúc nhận được tin vợ Ngài hạ sinh con trai, Ngài quyết định trốn khỏi nhà để đi tìm “chân lý”. Bấy giờ, thái tử Sĩ Đạt Ta mới mười chín tuổi.
Sau hơn mười năm học hỏi và chiêm nghiệm, đạo sĩ Cồ Đàm đã tìm được cho mình con đường Trung đạo để tu hành. Và Ngài đã đạt quả vị Phật khi mới ba mươi mốt tuổi.
Một trong những trụ cột của giáo lý đạo Phật là Tứ diệu đế hay bốn chân lý cao siêu do chính Đức Phật đã khám phá ra. Chữ “đế” có nghĩa là suy xét. Chân lý đầu tiên là Khổ đế, nó khẳng định rằng mọi sinh linh trong vũ trụ đều phải chịu đau khổ, đặc biệt thể hiện rõ nhất là ở những hoàn cảnh sinh, lão, bệnh, tử. Chân lý thứ hai - Tập đế - đề cập đến nguyên nhân của đau khổ là tham lam, giận dữ, mê muội (tham, sân, si). Đó là ba chất độc chính của đời sống và là cội rễ của mọi khổ ải. Diệt đế, chân lý thứ ba, chỉ dạy cách thức loại trừ đau khổ thông qua việc chấm dứt nguồn gốc gây ra nó, tức là phải tận diệt tham, sân, si. Và Chân lý thứ tư là Bát chính đạo, tức là việc tận diệt tham, sân, si bằng cách duy trì sự chân chính của một tổ hợp tám khía cạnh (hiểu biết, suy nghĩ, nói năng, hành động, sinh hoạt, cố gắng, chăm chú và định tâm). Mục tiêu cuối cùng của đạo Phật là giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Muốn thế, phải thành đạt đạo quả Phật để nhập vào cảnh giới “Niết Bàn” khi còn sống hoặc sau khi chết. Vậy Niết Bàn là gì? Đây là một trong những câu hỏi hóc búa nhất của Phật giáo.
Theo tư liệu Phật giáo, không thể có sự hiểu biết Niết Bàn bằng lý trí thuần tuý. Nhưng có thể chỉ ra một số đặc trưng nhất định của Niết Bàn. Trước hết, nó ở ngoài không gian và thời gian (phi không - thời gian). Nếu so sánh với hư không thì có thể nói Niết Bàn là “có”, còn hư không là “không”. Chính Đức Phật và các nhà truyền giáo đã mô tả Niết Bàn bằng những danh từ cùng tột như: tuyệt đối, duy nhất, vô tận, vĩnh cửu, tối thượng, chỗ nương tựa tối thượng, tuyệt đối thanh tịnh, không sinh, không khởi phát, không cấu tạo, bất biến, bất hoại, bất diệt...
Rõ ràng, nếu chúng ta so sánh đối tượng Niết Bàn của Phật giáo với bình diện tâm thức của vũ trụ thì có thể khẳng định là chúng đồng nhất với nhau.
Thượng Đế
Thượng Đế là một đối tượng siêu việt khác đã được mọi thánh nhân nói đến trong các giáo lý tâm linh từ mấy ngàn năm nay. Họ đều khẳng định là chỉ duy nhất một Thượng Đế. Ngài là di sản chung của mọi tín đồ Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Đạo Sikh, Thiên chúa giáo v.v... Ngài là Đấng tối cao duy nhất của toàn thể chúng sinh.
Tất cả các thánh nhân đều coi Thượng Đế là Cha của muôn loài, bất cứ thứ gì mà chúng ta nhìn thấy đều do Ngài tạo ra. Thượng Đế là vĩnh viễn và trường cửu, Ngài đã có từ trước khi thế giới được tạo ra, sẽ hiện hữu ngày hôm nay và sẽ hiện hữu từ nay về sau. Ngài đã khai sinh ra toàn bộ vũ trụ. Ngài bất tử, vô sinh vô diệt, không tăng không giảm...
Khi đi sâu tìm hiểu một cách kỹ lưỡng các thuộc tính của Thượng Đế, chúng ta sẽ nhận thấy rằng đối tượng siêu việt này cũng có các khía cạnh tương tự như Niết Bàn trong Phật giáo. Và cả hai đối tượng đó đều có những đặc trưng trùng hợp một cách kỳ lạ với các thuộc tính của bình diện tâm thức đã được xét.
Đạo
“Đạo” là một khái niệm vô cùng bí ẩn có mặt trong tác phẩm Đạo Đức Kinh của Lão Tử, nhà tư tưởng khác thường của Trung Hoa cổ đại. Người ta coi Lão Tử là một thánh nhân và đồng thời là một triết gia lớn.
Có lẽ Lão Tử là người đầu tiên trong các triết gia Trung Quốc đã dùng chữ “Đạo” để chỉ cái Nguyên lý tuyệt đối đã có từ trước khi khai thiên lập địa, không sinh không diệt, không tăng không giảm. Đạo là một nguyên lý huyền diệu và không thể luận bàn. Cái nguyên lý tối cao tối đại ấy là nguồn gốc và bản thể của vạn vật, nó tồn tại thường hằng và bất biến. Vì Đạo là một đối tượng có tính tuyệt đối nên không thể dùng từ ngữ tương đối (nhị nguyên) để mô tả nó.
Một trong những đặc trưng hết sức đáng chú ý của Đạo là phi nhân tính (vô cảm và vô lý trí), thụ động và toàn năng. Vạn vật đều có nguồn gốc từ Đạo và chịu tác động toàn bộ bởi nó, nhưng nó chẳng làm gì cả và không thiên vị trước bất kỳ sự vật nào. Tính “thụ động” và “toàn năng” của Đạo đã được Lão Tử đề xuất áp dụng thành một nguyên lý phổ biến để giải quyết mọi việc trong xã hội và cuộc sống hàng ngày. Đó là nguyên lý vô vi: làm như không làm, làm một cách toàn bộ và không thiên vị. Đa số các nhà nghiên cứu hiểu sai nguyên lý vô vi của Lão Tử vì họ không thấu hiểu Đạo ở những khía cạnh cơ bản nhất.
Xét một cách tổng thể sẽ thấy rằng, Đạo cũng là một đối tượng siêu việt như Niết Bàn, Thượng Đế hoặc bình diện tâm thức.
Một chi tiết trùng hợp kỳ lạ là trong Sách Phúc âm của Chúa Jesus do Jean ghi lại, có một đoạn như sau: “Trước khi sáng tạo vũ trụ đã có Đạo Thể. Đạo Thể ở cùng Thượng Đế và Đạo Thể là Thượng Đế. Ngay từ ban đầu Ngài đã hiện hữu cùng Thượng Đế. Tất cả đều được Ngài sáng tạo. Không gì hiện hữu mà không do Ngài...” (1:1-3). Rõ ràng, các từ “Đạo” của Lão Tử và “Đạo Thể” của Chúa Jesus có vai trò giống nhau. Ngoài ra, Đức Chúa đã đồng nhất Đạo Thể với Thượng Đế. Nói cách khác, “Thượng Đế” chỉ là tên gọi nhân cách hoá của đối tượng Đạo Thể.
Bí ẩn tối thượng
Nếu chúng ta xem xét đồng thời các đối tượng siêu việt là Niết Bàn, Thượng Đế và Đạo trong một tổng thể thì sẽ phát hiện ra rằng, các thuộc tính của nó đều có mặt ở bình diện tâm thức.
Điều đặc biệt đáng chú ý là trong khi giới khoa học đương đại còn chưa vươn tới khái niệm về bình diện tâm thức, thì ngay từ thời xa xưa rất nhiều đại sư và thánh nhân đã trực tiếp thể nghiệm một số đặc tính của đối tượng siêu việt này. Ví dụ, một đạo sĩ sau khi chứng ngộ vô ngã (thành Phật) đã thốt lên: “Ta chính là Thượng Đế. Ta phi thân thể, phi gắn bó và phi giới tính. Ta tuyệt đối tĩnh lặng, vô hạn, toàn bộ và cổ đại nhất. Ta là phi tác nhân, không thay đổi và nhận biết thuần khiết. Ta là thiên thần vĩnh cửu...”.
Để chỉ đối tượng bí ẩn tối thượng nói trên một cách phi nhân tính, trong một số kinh sách người ta đã đưa ra các tên gọi khác như cõi thiêng liêng, thực tại tĩnh lặng, cái đó... Nó được đặc trưng bởi những thuộc tính nổi bật sau đây:
- là Đối tượng hay Nguyên lý tuyệt đối duy nhất;
- có trước vạn vật;
- nguồn gốc của vạn vật;
- tồn tại vĩnh hằng;
- phi hành động, nhưng tạo ra mọi thứ;
- hiện hữu trong tất cả mọi vật hữu sinh và vô sinh;
- phi cảm xúc và phi lý trí;
- vô hạn và bất biến;
- phi thời gian và phi không gian;
- trong suốt và trống rỗng;
- im lặng và bất động tuyệt đối;
- không thể biết được nguồn gốc của nó v.v...
Bình diện tâm thức có thể được biểu trưng qua Niết Bàn, Thượng Đế, Đạo hay bất kỳ một danh xưng nào khác và để phát hiện ra nó chỉ có con đường duy nhất là mỗi người phải tự “thâm nhập” vào tầng năng lượng tinh tế nhất bên trong chính mình. Đây là bí quyết tối thượng mà các đạo sư đã cố sức truyền dạy từ thế hệ này qua thế hệ khác.
[Xem tiếp Phần 7]
Nguyễn Hiếu (Sưu tầm và giới thiệu)