- Phần thứ năm -
CHỨNG NGỘ
VÔ NGÃ
Sự kiện một người có thể chứng ngộ vô ngã (thành Phật) sau một thời gian tu luyện nhất định đã tạo nên một bức màn vô cùng huyền bí trong cuộc sống đời thường. Liệu có thể tiếp cận vấn đề này một cách logic? Dựa trên điều kiện nào hiện tượng chứng ngộ vô ngã xảy ra? Những con đường có thể để tu luyện?... Hàng loạt câu hỏi được đặt ra nhưng chưa có câu trả lời khả dĩ. Xuất phát từ thuyết vũ trụ đa chiều, đặc biệt là sự tồn tại của bình diện tâm thức, chúng ta sẽ lý giải đôi điều có liên quan.
Vị trí tiến hoá của con người
Xét theo khía cạnh logic, sự xuất hiện con người trên hành tinh chúng ta chỉ là một mắt xích trong dây chuyền tiến hoá của vật chất khởi nguồn từ bình diện tâm thức. Một số nhà tâm linh tin rằng, sự tiến hoá vật chất trên bề mặt Trái Đất phải trải qua 4 mức sau đây: địa quyển, sinh quyển, trí quyển và phật quyển. Việc tìm hiểu các mức đó một cách tổng hợp sẽ cho thấy những điều bí ẩn bất ngờ.
Trước hết cần lưu ý rằng, mỗi mức tiến hoá của các cấu trúc vật chất có quan hệ chặt chẽ với “hiệu ứng tâm thức” mà kết quả là thể hiện “nhận biết” ở một dạng nhất định.
Địa quyển: Mức địa quyển của vật chất ứng với trạng thái ngủ tuyệt đối - chưa có biểu hiện “nhận biết” - đó là dạng vật chất tiền sự sống. Các khối vật chất như đất, đá... chưa được cấu tạo thành hệ thống năng lượng phức tạp đủ để trở nên linh hoạt bởi tác động của “sóng tâm thức”. Các khối vật chất địa quyển hoàn toàn bất động, vô cảm, vô trí và không có tự do. Vật chất ở giai đoạn này tuân thủ cứng nhắc luật nguyên nhân - hậu quả của thế giới tự nhiên.
Sinh quyển: Từ sinh quyển được hiểu theo nghĩa sự sống, tiền ý thức. Mức sinh quyển gắn liền với sự xuất hiện và phát triển đời sống của các cá thể thực vật và động vật. Các thành viên sinh quyển đã và đang thể hiện sự hoạt động sống muôn hình muôn vẻ, có khả năng di động chút ít hoặc chuyển động tự do. Thuộc tính “nhận biết” của chúng tựa như ở trạng thái mơ, nhưng vẫn có biểu hiện rõ nét trong hoạt động sống hàng ngày. Tại đây luật nguyên nhân - hậu quả vẫn còn thể hiện trực tiếp, nhưng không cứng nhắc như đối với địa quyển; một chút ít tự do trở thành có thể nên các kết cục ngẫu nhiên bắt đầu xảy ra; một vài yếu tố lỏng lẻo và hổ lốn về cái “ta” bắt đầu thành hình.
Loài vật nói chung sống theo quá khứ và hầu như không có ý tưởng rõ rệt về tương lai - chúng không thể lập kế hoạch, không thể suy nghĩ trước một cách mạch lạc và lâu dài. Đối với chúng, bất kỳ cái gì đã từng xảy ra trong quá khứ đều được trông đợi xảy ra trong tương lai. Vì vậy, tương lai của loài vật ít nhiều giống như quá khứ, nó là sự lặp lại; quá khứ đóng vai trò thống trị, thời gian đi vào qua quá khứ, cái “ta” đi vào qua quá khứ. Loài vật sống một cách an bình, thuận theo tự nhiên và vô ý thức.
Trí quyển: Mức trí quyển của vật chất gắn liền với sự nảy sinh tâm trí, tự ý thức của loài người. Khi tự ý thức tới thì điều chắc chắn đi kèm là cái “tôi” có mặt. Sự thể hiện phong phú của tâm trí con người làm xuất hiện khuynh hướng cuộc sống hướng tới tương lai. Con người sống trong xã hội càng văn minh thì càng hướng tới tương lai nhiều hơn. Hậu quả của việc sống thiên về tương lai là trở nên lo âu và căng thẳng. Loài vật sống một cách an bình vì chúng hầu như không nghĩ tới tương lai. Con người có nhu cầu hướng tới tương lai, tức là phải chịu lo âu và căng thẳng.
Về mặt tổng thể, thuộc tính “nhận biết” của con người còn ở trạng thái tựa như vừa mới tỉnh dậy sau một cơn mơ rất dài. Nó đang trong thời kỳ trung gian giữa ngủ và tỉnh thức. Bởi vậy, tồn tại hàng loạt các hành vi vô ý thức rất có hại mà con người dễ dàng thực hiện hàng ngày. Tại mức trí quyển, con người nhận được sự tự do chưa hoàn hảo là chọn lựa. Mỗi cá nhân có khả năng tự do nhất định về chọn lựa cái này hay cái khác đối với nhiều yếu tố và sự kiện xảy ra. Bởi vậy, luật nguyên nhân - hậu quả đôi khi ít nhiều biến dạng và thể hiện ra ngoài không rõ ràng. Nhưng luật đó vẫn được duy trì ở những hình thái tương đối phức tạp và khó nhận biết hơn.
Điều đáng chú ý tại mức trí quyển là hầu hết mọi người tự đồng nhất thân vật lý và tâm trí của mình với cái “tôi”, không ngừng vun đắp cho yếu tố chủ quan là bản ngã - tổ hợp những điều riêng tư về ký ức, chuỗi sự kiện, việc xảy ra, ý kiến, dư luận v.v... Đó được coi là nguyên nhân gốc rễ dẫn đến nhiều tai hoạ và nỗi khổ triền miên trong quá trình phát triển cuộc sống con người. Tuy kết cục như vậy nhưng lại có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy sự tìm tòi khám phá nội dung của mức tiến hoá vật chất tiếp theo.
Phật quyển: Sự tiến hoá vật chất ở mức phật quyển đang trong quá trình hình thành. Nó gắn liền với sự xuất hiện thế hệ đông đảo những người có thuộc tính “nhận biết” đột biến về chất; trong Phật giáo họ được gọi một cách tôn kính là những vị Phật.
Từ “phật” (tiếng Phạn là buddha) đơn giản có nghĩa là người tỉnh thức. Đó là người đã chứng ngộ vô ngã - người siêu việt khỏi tâm trí, luôn tràn đầy nhận biết, kể cả trong giấc ngủ. Các vị Phật biết rõ câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai?”, đặt dấu kết thúc cho việc theo đuổi các mục đích vì cái “tôi” và nhu cầu là “ai đó” biến mất hoàn toàn. Họ là những người thể hiện “nhận biết” hoàn hảo và luôn sống trong niềm phúc lạc lớn lao vì vắng bóng tham, sân, si.
Một vị Phật khi còn sống có thể đã đạt đến một trong hai trạng thái là tâm linh (cảm giác về cái “tôi” biến mất, chỉ cái “ta” hiện hữu) hoặc vũ trụ (cảm giác về cái “ta” biến mất, chỉ cái toàn bộ hiện hữu). Không thể nói điều gì cụ thể liên quan đến các trạng thái cao hơn, thí dụ trạng thái niết bàn, vì chỉ có thể đạt tới nó sau cái chết của thân vật lý và khi đó mọi thứ dường như tan biến vào “rỗng không”. Số những người đã chứng ngộ vô ngã vẫn còn quá ít.
Kinh nghiệm thực tế và lý thuyết cho thấy rằng: một cá nhân có thể trở thành vị Phật khi còn rất trẻ, sau đó vẫn có thể lao động, sinh sống gia đình và hoạt động xã hội trong cộng đồng dân cư. Một vị Phật có những ưu thế đáng chú ý sau đây so với người bình thường:
- Thấu triệt điều cốt lõi rằng, tâm thức là yếu tố bản chất của mỗi cá nhân;
- Không bị lôi cuốn bởi các yếu tố tham, sân, si - nguồn gốc của mọi sự đau khổ;
- Biết rõ ý nghĩa đời sống con người là ở chỗ không ngừng rèn luyện để nâng cao mức độ nhận biết;
- Tình cảm và lý trí về đời sống hàng ngày không bị lệ thuộc vào thân vật lý, tâm trí, các mối quan hệ và môi trường xung quanh;
- Có trí tuệ siêu việt (tâm trí luôn tĩnh lặng, trực giác hoàn hảo, dễ dàng tiếp cận nguồn tri thức vũ trụ).
Việc lý giải về khả năng hầu như chắc chắn phát sinh thế hệ những vị Phật (phật quyển) có liên quan đến sự hiện hữu đa chiều thực tại của vũ trụ. Ngoài ra, bất kỳ cá nhân nào thực chất cũng là một vị Phật tiềm ẩn. Tổ hợp các điều kiện khởi đầu giúp con người hướng tới chứng ngộ một cách dễ dàng và đại chúng hơn chính là kết quả đỉnh cao về thế giới quan, khoa học công nghệ, nỗi khổ đau khôn cùng mà hàng triệu người ngày càng phải đương đầu khốc liệt, sự phổ biến rộng rãi tri thức tâm linh cũng như nhiều phương sách công hiệu dẫn dắt người tu luyện.
Có cơ sở để hy vọng sâu sắc rằng, xã hội loài người trong giai đoạn phật quyển sẽ thay đổi cơ bản về chất: hoà bình ngự trị khắp mọi nơi, con người và thiên nhiên trong mối liên hệ hài hoà bền vững, các tệ nạn nói chung rất hiếm xảy ra, mỗi cá nhân được giáo dục và rèn luyện một cách tinh tế để có khả năng tạo dựng cuộc sống hạnh phúc cũng như không ngừng tự hoàn thiện mình theo các tiêu chí mới về thể chất và tinh thần.
Sau mức phật quyển, vật chất dần trở lại trạng thái phi cấu trúc, kết thúc một chu trình tiến hoá của nó.
Cơ chế chứng ngộ
Sự chứng ngộ vô ngã hay siêu việt khỏi tâm trí (thành Phật) là một hiện tượng bí ẩn xảy ra với con người. Trong lịch sử nhân loại, số các vị Phật nổi tiếng chỉ có thể được đếm trên đầu ngón tay. Việc tu luyện thành Phật là một quá trình rất khó khăn và lâu dài. Phương pháp luận về cơ chế chứng ngộ và thực hành tâm linh ít khi được lý giải rõ ràng, nhất quán. Theo cách hiểu logic, hầu như tất cả các thuyết tâm linh về chứng ngộ đều dựa trên tiên đề ngầm định là vũ trụ bao gồm vô số chiều thực tại, trong đó có bình diện tâm thức với các tính chất siêu việt; chiều thực tại này đôi khi được hình tượng hoá bởi Niết Bàn, Thượng Đế, Chúa Trời...
Ở đây sẽ xét đến cơ chế chứng ngộ xuất phát từ cấu trúc năng lượng và mô hình tâm linh của con người. Trước hết cần làm rõ một số thuật ngữ.
Ý thức, tự ý thức: Chúng ta sẽ coi “ý thức” là sự phản ánh và tái hiện thực tại xung quanh vào lý trí của một sinh thể, còn “tự ý thức” - sự phản ánh và tái hiện bản thân vào lý trí của sinh thể đó. Từ “sinh thể” được dùng để chỉ con người, động vật hay sinh thể năng lượng (không nhìn thấy).
Khi nói đến ý thức và tự ý thức, cần nhớ chúng chỉ là một phần thể hiện của thuộc tính “nhận biết” có nguồn gốc từ bình diện tâm thức. Hơn nữa, thực tại mà ý thức phản ánh và tái hiện vào lý trí chỉ có thể thuộc một bình diện vật chất nhất định (bình diện vật lý hoặc một bình diện không nhìn thấy). Bình diện đó được gọi là bình diện hiện hành (chiều thực tại hiện hành). Khi thức, đa số mọi người đều tiếp nhận bình diện vật lý là chiều thực tại hiện hành.
Như trên đã đề cập đến, con người là một hệ thống gồm thân vật lý và các cơ thể năng lượng không nhìn thấy. Chúng liên kết với nhau qua các luân xa. Từng cơ thể liên thông với một chiều thực tại xác định, ví dụ thân vật lý liên thông với chiều vật lý. Khi ở trạng thái tĩnh lặng, có thể xảy ra hiện tượng dịch chuyển tự ý thức từ thân vật lý tới một cơ thể năng lượng nào đó, tức là liên thông với chiều thực tại tương ứng. Khi đó, ý thức của con người có thể sẽ phản ánh và tái hiện hiện thực xung quanh của chiều thực tại mới (khác chiều vật lý). Nếu xét một cách hình thức thì sự định hướng “tự ý thức” từ cơ thể này qua cơ thể khác có phần tương tự như việc sử dụng “con trỏ điện tử” để định hướng sự hoạt động từ cửa sổ này qua cửa sổ khác trong hệ thống Windows điều hành máy vi tính. Chúng ta sẽ gọi sự định hướng tự ý thức như vậy là con trỏ tâm thức, còn cơ thể mà ở đó tự ý thức có mặt - cơ thể hiện hành.
Một trong những điều bí ẩn từ lâu đã được các đại sư khám phá là nếu con trỏ tâm thức của một người nằm ở cơ thể tinh tú (cơ thể năng lượng thứ tư), thì người đó ở trạng thái ngủ. Đặc biệt hơn, nếu con trỏ tâm thức của một người bất chợt trở nên thường trực ở tại cơ thể ête mẫu (cơ thể năng lượng thứ năm) hoặc cơ thể thượng giới (cơ thể năng lượng thứ sáu) thì người đó đã chứng ngộ vô ngã, tức là sự cảm nhận cái “tôi” biến mất. Trong trường hợp này, con trỏ tâm thức có thể dễ dàng dịch chuyển từ cơ thể hiện hành tới bất kỳ cơ thể khác có số thứ tự thấp hơn. Theo kinh nghiệm, sự chứng ngộ diễn ra một cách thụ động, đột biến và được duy trì bền vững.
Cơ chế chứng ngộ vô ngã có thể được phát biểu ngắn gọn như sau: khi hệ thống các cơ thể con người thoả mãn những điều kiện nhất định thì con trỏ tâm thức sẽ trở nên thường trực tại cơ thể ête mẫu hoặc cơ thể thượng giới.
Có hai điều kiện cơ bản cần được đáp ứng. Điều kiện đầu tiên là sự tinh khiết của thân vật lý và các cơ thể năng lượng, nghĩa là cần phải thực hiện những biện pháp nào đó để làm trong sạch các hành vi của “thân, khẩu, ý”, tạo nên sự hài hoà giữa các cơ thể. Điều này có liên quan đến quá trình khai mở các luân xa. Còn điều kiện thứ hai đòi hỏi có nhiều thời gian tĩnh lặng và thả lỏng tâm trí để tự ý thức con người ngày càng trở nên sáng tỏ và linh động hơn.
Ngoài ra, sự hiểu biết thấu đáo về bản chất của vũ trụ và con người cũng sẽ hỗ trợ đắc lực cho người tu luyện nhanh chóng đi tới kết quả chứng ngộ.
Những con đường chứng ngộ
Có nhiều con đường dẫn đến sự chứng ngộ vô ngã (thành Phật). Đó là những phương sách tạo ra sự tác động gián tiếp để con trỏ tâm thức có thể chuyển dịch qua lại giữa thân vật lý và các cơ thể năng lượng. Ngoài việc hầu như bắt buộc là phải tinh khiết hoá các hành vi của “thân, khẩu, ý”, các nhà thực hành tâm linh thường đi theo một trong ba con đường chủ yếu mà mục tiêu cuối cùng là loại bỏ vai trò “chủ” của tâm trí.
Con đường chứng kiến: Phương sách này dựa trên ý tưởng sau đây. Yếu tố tâm thức hay “linh hồn” của một người có khả năng “phản chiếu” một cách độc lập tựa như cái gương, tức là nó có thể “chứng kiến” không chỉ mọi sự vật xung quanh mà cả bản thân người đó. Nhưng con người từ lâu đã lãng quên điều cốt lõi này, thường chỉ chú ý đến ngoại cảnh mà ít khi “chứng kiến” bản thân. Cần phải nhớ lại và tạo ra hoàn cảnh thuận lợi để yếu tố tâm thức phát huy khả năng của nó. Việc một người thực hành chứng kiến một phần hoặc toàn bộ bản thân mình được gọi là “thiền tâm linh” hay “thiền zen” (khác với các dạng thiền dưỡng sinh). Quá trình thiền zen sẽ làm cho thân vật lý và tâm trí mất dần vai trò “chủ”, còn yếu tố tâm thức sẽ có cơ hội thế vào vị trí vốn có của mình. Theo truyền thuyết, phương sách chứng kiến như vậy đã được Phật Thích Ca áp dụng một cách bền bỉ trong quá trình tu luyện tâm linh.
Điều cơ bản nhất của thiền zen là nội dung của cách chứng kiến. Thường chúng ta chỉ chứng kiến một chiều ra ngoài, tức là chỉ chú ý đến khách thể mà quên mất chủ thể. Ví dụ, khi một người ngắm nhìn một bông hoa thì người đó không có nhận biết bản thân. Ở đây bông hoa là khách thể, còn người ngắm hoa - chủ thể.
Nhưng đối với thiền zen, việc chứng kiến phải diễn ra hai chiều (nhận biết đồng thời cả chủ thể và khách thể) hoặc một chiều vào trong (chỉ nhận biết chủ thể). Điều này tưởng chừng như đơn giản và dễ thực hiện, nhưng trong thực tế không phải vậy. Vấn đề là ở chỗ con người thường chứng kiến qua tâm trí, chứ không phải bằng tâm thức. Nếu chúng ta sử dụng tâm trí để nhận biết thì không thể chứng kiến được chính mình (theo luật “bất toàn” - xem phần 6). Chỉ với yếu tố tâm thức thì việc thiền zen mới có thể được thực hiện.
Quá trình thiền zen để đi đến chứng ngộ vô ngã (thành Phật) diễn ra theo ba giai đoạn. Đầu tiên là phải chứng kiến thân vật lý của mình. Dần dần, thiền nhân sẽ trở nên tỉnh táo, có ý thức hơn về mỗi cử chỉ, mỗi hành động của bản thân. Đến một lúc nào đó thì một số hành vi vô ý thức tự biến mất, thân vật lý trở nên thư thái và hài hoà sâu sắc.
Giai đoạn thứ hai là chứng kiến các ý nghĩ của mình. Theo những người có thị giác đặc biệt, các ý nghĩ có nguồn gốc từ cơ thể tâm thần (thể trí), tồn tại ở dạng những cấu trúc năng lượng thuộc cơ thể cảm xúc (thể vía) và được cơ thể này trung chuyển vào bộ não.
Các ý nghĩ tinh tế hơn thân vật lý, do vậy việc làm chủ chúng không dễ dàng. Khi trở nên nhận biết các ý nghĩ của mình thì chúng ta sẽ rất kinh ngạc về những gì xảy ra bên trong bộ não. Nếu ghi lại mọi điều đang xuất hiện trong đầu thì chúng ta không thể tin được và đặt ra câu hỏi: do đâu mà tất cả những thứ đó lại phát sinh? Một người bình thường có thể nhận ra một tâm trí điên khùng của chính mình. Vì thường xuyên không “chứng kiến” tiến trình của các ý nghĩ, nên chúng ta phó mặc toàn bộ cái điên khùng đó cứ tuôn chảy như dòng nước ngầm. Nó có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của mỗi người và toàn bộ xã hội.
Chính thiền zen có thể làm thay đổi điều đó. Thông qua việc “chứng kiến”, dần dần các ý nghĩ bắt đầu rơi vào trong một số hình mẫu nhất định, sự hỗn loạn của chúng ngày càng trở nên hài hoà hơn, rồi chúng trở nên tĩnh lặng và dễ điều khiển trong mối quan hệ với thân vật lý. Luồng các ý nghĩ như vậy tồn tại trên cơ sở sự đồng nhất của con người với chúng. Khi điều đó không xảy ra thì cuộc sống riêng hỗn loạn của các ý nghĩ sẽ dần dần chấm dứt.
Việc “chứng kiến” mọi biểu hiện xúc động, tình cảm và tâm trạng con người là nội dung thiền zen ở giai đoạn thứ ba. Mặc dù các đối tượng được nhận biết rất tinh tế, nhưng nếu thiền nhân có sự kiên trì và nỗ lực thực hành “chứng kiến” thì sẽ có kết quả. Đến một lúc nào đó, các biểu hiện xúc động, tình cảm và tâm trạng sẽ hoà nhập thành một, vận hành đồng thuận cùng nhau như một dàn nhạc để tạo điều kiện cho giai đoạn tiếp theo. Cần lưu ý rằng, thiền nhân trong cả ba giai đoạn nói trên chỉ cần nỗ lực “chứng kiến” lúc đầu, còn đến một thời điểm nhất định thì sự “chứng kiến” sẽ diễn ra một cách tự nhiên (phi nỗ lực).
Thiền zen cũng có thể được thực hiện đồng thời với hành động. Đầu tiên là chứng kiến những điều đơn giản như đi, đứng, ngồi, nằm... trong khi vẫn nhớ tới mình. Rồi chứng kiến những hành vi phức tạp hơn do bản thân thực hiện một cách có ý thức. Đến một lúc nào đó việc thiền sẽ diễn ra một cách phi nỗ lực, người làm và hành động tương ứng dường như được chứng kiến bởi một đối tượng vô hình.
Sau ba giai đoạn, các điều kiện thuận lợi để yếu tố tâm thức trở thành “chủ” đã được thiết lập. Sự “chứng kiến” tối thượng - nhận biết tâm thức - sẽ xuất hiện một cách thụ động và bất thần. Thiền nhân không thể tự quyết định điều này. Kết quả cuối cùng là thiền nhân có thể trở thành người tỉnh thức - vị Phật. Và chỉ trong sự tỉnh thức như vậy con người mới nhận ra phúc lạc là gì. Thân vật lý biết tới hoan lạc, tâm trí biết tới hạnh phúc, trái tim biết tới niềm vui, còn “linh hồn” biết tới phúc lạc - niềm vui vô điều kiện.
Các đại sư thường nói rất nhiều về con đường chứng kiến, nhưng để nắm được thực chất của nó đòi hỏi một quá trình suy ngẫm sâu sắc. Có thể lột tả con đường chứng kiến theo một cách hình tượng như sau. Khi ai đó đối diện với một sự vật X thì sẽ có một trong hai cách hành xử được thể hiện: chứng kiến hoặc xem xét X. Rõ ràng, hai cách hành xử này có bản chất hoàn toàn khác nhau.
Chứng kiến X được tâm thức thực hiện một cách liên tục từ thời điểm này qua thời điểm khác và không để lại dấu vết, giống như cái gương phản chiếu X trước nó. Tại bất kỳ thời điểm nào và ở bất kỳ đâu, cái gương - tâm thức luôn luôn có khả năng phản chiếu một cách trung thực mọi sự vật xảy ra xung quanh nó. Điều căn bản cần được ghi nhớ là: cái gương - tâm thức không lưu giữ bất kỳ dấu vết nào của X và không có bất kỳ thái độ nào đối với những gì liên quan đến X. Vì nó chỉ đơn thuần chứng kiến sự vật một cách vô tư nên không tạo ra sự nhiễu loạn nội tâm. Nói cách khác, hai từ chứng kiến và phản chiếu ở đây là đồng nghĩa.
Mặt khác, việc xem xét X do tâm trí thực hiện một cách liên tục từ thời điểm này qua thời điểm khác, nhưng kèm theo sự đánh giá tự phát và có giữ lại dấu vết của X, tương tự như một thiết bị với các chức năng đồng thời thu - xử lý - đánh giá thông tin về X. Cần đặc biệt chú ý rằng, có nhiều chi tiết liên quan đến X được khắc ghi bởi tâm trí và trong nó luôn luôn diễn ra một “thái độ” tiếp nhận sự vật mang tính chủ quan. Ví dụ, khi đứng trước một bông hoa thì tâm trí sẽ có “thái độ” là bông hoa đẹp hay xấu, tươi mới hay héo tàn, đắt tiền hay giá rẻ... Chính “thái độ” tiếp nhận sự vật như vậy làm cho con người xa rời chân lý tự nhiên và dễ rơi vào tâm trạng loạn động, đôi khi không thể chịu đựng nổi trước những sức ép tâm - sinh lý.
Tóm lại, nếu con người học cách tiếp nhận mọi sự vật qua tâm thức thì vai trò “chủ” của tâm trí dần dần sẽ bị loại bỏ, nó sẽ trở thành một khí cụ rất hiệu quả khi được sử dụng.
Con đường yêu thương: Việc lý giải phương sách này dựa trên cấu trúc năng lượng của con người. Theo bà Brennan, nếu một người có luân xa 5 và luân xa 6 được khai mở và chúng liên kết với nhau, thì tình yêu thương vô điều kiện ở người đó sẽ tuôn chảy, sẽ cảm thấy bản thân và vũ trụ hoà nhập làm một. Cơ sở mà phương sách yêu thương dựa vào tương tự với nội dung đảo lại của “mệnh đề” vừa nêu. Nó được phát biểu như sau: nếu một cá nhân luôn luôn duy trì tình yêu thương vô điều kiện đối với tất cả mọi thứ thì con trỏ tâm thức sẽ có thể trở nên thường trực ở cơ thể năng lượng thứ 6, làm cho người đó cảm thấy bản thân và vũ trụ hoà nhập với nhau - trở thành vị Phật.
Một trong những người sùng đạo nổi tiếng đã đi theo con đường yêu thương là Chúa Jesus. Ngài đã răn dạy các tông đồ: “Phải hết lòng, hết linh hồn, hết lý trí, hết sức kính yêu Chúa là Thượng Đế của con. Hãy thương yêu người khác như chính mình”; “Hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bức hại các con”. Tất nhiên, các tín đồ theo con đường yêu thương trước hết cũng phải thường xuyên tự gột rửa bản thân để sao cho các hành vi “thân, khẩu, ý” của họ đều trở nên trong sạch.
Trong thuyết tâm linh, người ta ví sự chứng ngộ vô ngã (thành Phật) là tột đỉnh của mọi giá trị: chân lý, yêu thương, chứng kiến, thực tại, toàn bộ. Tại đỉnh cao nhất chúng là một thể thống nhất. Sự tách biệt của chúng chỉ xảy ra ở mức độ thấp hơn. Chúng càng trở nên thuần khiết khi càng lên cao. Bậc thang thấp nhất của tình yêu thương là sự thèm khát dục tính, còn bậc thang cao nhất - sự sùng kính, lời cầu nguyện. Trong sự thèm khát, tình yêu thương thuộc về thể chất và chỉ chiếm một tỷ lệ ít ỏi, phần còn lại là những thứ khác như sở hữu, ghen tuông, giận hờn, bạo hành...
Sự chuyển tiếp của tình yêu thương từ bậc thang này lên bậc thang khác một phần phụ thuộc vào quá trình dịch chuyển con trỏ tâm thức từ cơ thể này đến cơ thể khác cao hơn. Nhà thực hành xuất thần William Buhiman đã viết như sau về tâm trạng của mình khi ở trong cơ thể năng lượng thứ ba: “Toàn bộ con người tôi chìm ngập trong biển cả năng lượng thuần khiết và yêu thương vô điều kiện”.
Như vậy, hai con đường yêu thương và chứng kiến là khác nhau đối với phần đầu cuộc hành trình tâm linh. Đến lúc đạt tới điều tối thượng thì chúng là một. Người theo con đường yêu thương sẽ tìm thấy chứng kiến như một hệ quả. Ngược lại, người theo con đường chứng kiến sẽ tìm thấy yêu thương như một sản phẩm đi kèm. Chúng là hai mặt của cùng một đồng tiền. Kinh nghiệm cho thấy rằng, nếu ai đó thực hành chứng kiến mà thiếu tình yêu thương thì vẫn còn phiến diện; mặt khác, nếu tình yêu thương của ai đó mà không có nhận biết (chứng kiến) thì nó chưa thật sâu sắc.
Trong thực tế có thể lấy một trong hai thứ đó để làm tiêu chuẩn đánh giá: nếu một người theo con đường chứng kiến thì hãy coi tình yêu thương là hệ quả, còn nếu theo con đường yêu thương - chứng kiến là hệ quả.
Con đường phi chọn lựa: Phương sách này dựa trên một cơ sở rất đơn giản: vai trò “chủ” của tâm trí được thể hiện qua việc chọn lựa trước mọi sự vật xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, nếu một người luôn luôn chấp nhận mọi thứ (phi chọn lựa) thì tâm trí bị đẩy về thứ yếu và sớm muộn nó cũng sẽ trở nên thụ động (tĩnh lặng). Cách thức phi chọn lựa đã được thực hành bởi một trường phái tâm linh nổi tiếng ở Trung Hoa cổ đại mà người đứng đầu chính là Lão Tử.
Con đường phi chọn lựa hay chấp nhận toàn bộ rất khó được thực hiện. Những người đi theo con đường này cần phải ghi nhớ những quy tắc chỉ dẫn rất khó chịu. “Đừng chọn lựa, hãy bình thản chấp nhận mọi thứ trong cuộc sống khi chúng đến. Đừng nỗ lực để đạt tới bất cứ mục tiêu nào, không bận tâm tới tương lai và quá khứ, hãy tận hưởng từng khoảnh khắc hiện tại...”. Nếu thực hiện được như vậy thì sẽ nảy sinh trong tâm hồn con người một sự hoà âm êm dịu.
Xã hội mà chúng ta đang sống mang tính nhị nguyên. Một sự vật bất kỳ luôn có thể được phân chia thành hai mặt khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Tâm trí con người không thể tự nguyện chấp nhận “mặt trái” của một cái gì đó, ngược lại nó luôn hướng tới “mặt phải”. Đó chính là nguyên nhân sâu xa làm cho loài người đau khổ.
Sự chấp nhận phi chọn lựa trước mọi hoàn cảnh sẽ làm cho một cá nhân hài hoà với tự nhiên và ít bị lệ thuộc vào điều kiện sống của xã hội. Các mặt khác nhau của mỗi thứ sẽ được chấp nhận như một thể thống nhất.
Kết quả cuối cùng có thể đạt được bằng con đường phi chọn lựa là “tiểu ngã” của người hành đạo sẽ hoà nhập hoàn toàn vào “đại ngã” của vũ trụ - con người sẽ có cảm nhận bản thân mình đồng nhất với vũ trụ. Một cá nhân như vậy chính là vị Phật.
[Xem Phần 6]
Nguyễn Hiếu (Sưu tầm và giới thiệu)