- Phần thứ tư -
BẢN THỂ
CON NGƯỜI
Nhận xét chung
Hàng chục ngàn năm trước đây có lẽ con người đã biết suy ngẫm về nhiều khía cạnh đời sống của chính mình. Đó là một trong những đặc điểm căn bản về trí tuệ để phân biệt con người với động vật. Dĩ nhiên, nếu xét về môi trường hoạt động sống thì khác với động vật, con người biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động theo những mục đích nhất định. Vượn người là loài động vật thông minh cũng chỉ biết sử dụng các công cụ sẵn có trong thiên nhiên như hòn đá, cành cây... và đôi khi biết chút ít biến đổi vật dụng thô sơ cho phù hợp với hoàn cảnh kiếm ăn. Bằng các công cụ phức tạp và có hiệu quả, con người đã và đang tác động mạnh mẽ vào thiên nhiên, làm thay đổi môi trường sống và tạo dựng cuộc sống của mình theo nhiều hình mẫu vô cùng phong phú. Quá trình hoạt động trí óc và lao động chân tay đã làm cho con người vượt xa mức sống của động vật.
Mặc dù hiện nay nền văn minh nhân loại đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn trong hàng loạt lĩnh vực khoa học - kỹ thuật, nhưng vẫn bó tay trước những câu hỏi đã từng làm đau đầu bao thế hệ các nhà thông thái. Bản thể con người là gì? Vị trí tiến hoá tự nhiên của con người? Ý nghĩa đời sống của con người? Tồn tại cuộc sống sau cái chết? Thực chất của các hiện tượng tâm linh? v.v...
Chúng ta hy vọng rằng, xuất phát từ thuyết vũ trụ đa chiều thực tại ở trên sẽ có thể giải đáp được hầu hết các vấn đề như vậy. Một trong những khía cạnh nền tảng của vũ trụ cần được luôn ghi nhớ là sự tồn tại vĩnh hằng của bình diện tâm thức cùng với các thuộc tính đặc biệt của nó.
Cấu trúc năng lượng của con người
Những người có khả năng đặc biệt về thị giác(1) từ lâu đã nhận biết được rằng, sinh vật nói chung và con người nói riêng là những cấu trúc đa chiều. Nói cách khác, ngoài thân vật lý (thể xác) mà chúng ta nhìn thấy còn có các cơ thể không nhìn thấy ở dạng năng lượng phối hợp hoạt động với nhau thành một hệ thống hoàn chỉnh. Nếu không tính đến điều đó thì không thể có cách tiếp cận đúng đắn và tìm được những kết luận phù hợp về bản thể con người.
Như chúng ta đã biết, vật lý học hiện đại đã xác nhận sự tương đương giữa vật chất và năng lượng - trong các điều kiện nhất định thì cái này có thể được biến đổi thành cái kia và ngược lại. Về mặt định lượng, sự tương đương đó được biểu thị bởi công thức nổi tiếng của Einstein E = mc2, ở đây E là năng lượng, m là khối lượng, còn c = 300.000 km/s - vận tốc ánh sáng trong chân không. Do đó, có thể coi mọi sinh vật đều được cấu tạo từ các thành phần năng lượng.
Thời gian gần đây người ta đã đưa ra nhiều hệ thống để mô tả các cơ thể năng lượng của con người. Ở đây chúng ta sẽ sử dụng cách mô tả của bà Barbara Ann Brennan(2) kèm theo một số tư liệu từ thuyết tâm linh.
Theo bà Brennan, ngoài thân vật lý con người còn có ít nhất 7 cơ thể năng lượng không nhìn thấy bởi mắt thường và tất cả chúng thâm nhập lẫn nhau trong một khoảng không gian vào cùng một thời điểm. Các cơ thể năng lượng được đánh số thứ tự theo mật độ vật chất giảm dần, trong đó cơ thể liền kề thân vật lý được đánh số 1.
Việc quan sát bằng thị giác đặc biệt cho biết rằng, các cơ thể có số thứ tự lẻ (1, 3, 5, 7) đều có cấu trúc rõ ràng, trong khi các cơ thể có số thứ tự chẵn (2, 4, 6) lại gồm những chất tựa lỏng không có cấu trúc đặc thù. Mỗi cơ thể kế tiếp ít đậm đặc hơn và thâm nhập hoàn toàn vào tất cả các cơ thể trước nó, kể cả thân vật lý.
Các cơ thể có số thứ tự lẻ chứa mọi hình thái mà thân vật lý có, kể cả nội tạng, mạch máu... và các hình thái bổ sung mà thân vật lý không có. Mỗi cơ thể hiện ra khác nhau và có chức năng đặc trưng. Mỗi cơ thể được kết hợp với một luân xa chính và một số luân xa khác. Từ “luân xa” có nghĩa là bánh xe. Trừ luân xa 1 và luân xa 7, mỗi luân xa chính còn lại là cặp cuộn xoáy năng lượng hình nón quay tròn với chóp đối diện nhau và hướng vào dòng năng lượng chủ yếu từ đỉnh đầu tới xương cụt, còn hai đáy nằm ở phía trước và phía sau, tiếp giáp với rìa của cơ thể tương ứng.
Số thứ tự của mỗi luân xa chính được gán trùng với số thứ tự của cơ thể tương ứng. Như vậy, luân xa 1 ứng với cơ thể năng lượng thứ nhất, luân xa 2 ứng với cơ thể năng lượng thứ hai..., luân xa 7 ứng với cơ thể năng lượng thứ bảy.
Luân xa chính của các cơ thể có ba chức năng chủ yếu sau đây: tiếp sinh khí cho từng cơ thể, kể cả thân vật lý; tạo ra sự phát triển các diện mạo khác nhau của ý thức về bản thân; trao đổi năng lượng giữa các cơ thể. Năng lượng được truyền từ cơ thể này sang cơ thể khác liền kề qua những khe hành lang ở đỉnh luân xa. Các hành lang này ở số đông người bị đóng, chúng thường được khai mở do bẩm sinh hoặc kết quả của việc thanh khiết hoá tâm linh.
Tiếp theo sẽ mô tả vắn tắt cấu trúc năng lượng và chức năng của các cơ thể không nhìn thấy.
Cơ thể ête (cơ thể năng lượng thứ nhất): Từ “ête” được dùng để chỉ dạng năng lượng kề cận vật chất hữu hình. Cơ thể này gồm các vạch năng lượng rất bé, giống như một mạng các tia sáng lấp lánh. Nó có cùng cấu trúc với thân vật lý, chứa tất cả các bộ phận giải phẫu học và toàn bộ các cơ quan. Cảm giác của người quan sát là cơ thể ête đóng vai trò cái khuôn năng lượng mà trên đó thể chất các mô của thân vật lý được hình thành và bám vào. Thực nghiệm đã chứng tỏ rằng, cơ thể ête được sinh ra trước thân vật lý.
Qua cơ thể ête, người ta có thể thấy được tất cả các bộ phận của thân vật lý, nhưng chúng được tạo nên bằng ánh sáng xanh nhạt lấp lánh. Nếu chỉ tập trung nhìn vào cơ thể này thì có thể nhận ra nó tựa như một người nam hay nữ bằng những vạch ánh sáng xanh nhạt liên tục nhấp nháy.
Các phần tử của cơ thể ête chuyển động không ngừng. Những tia sáng xanh nhạt chuyển dịch dọc theo các vạch năng lượng khắp thân vật lý. Cơ thể ête có màu sắc thay đổi từ xanh nhạt sang xám, nó vượt ra khỏi mặt da khoảng 0,64-5,08 cm và rung động 15-20 chu kỳ/phút.
Trong thuyết tâm linh, cơ thể ête được gọi là thể phách. Nó có hai nhiệm vụ chủ yếu là thường xuyên phân phát sinh lực (prana) khắp thân vật lý và làm cầu nối giữa thân vật lý với cơ thể năng lượng thứ hai. Thể phách sẽ bị phân huỷ sau cái chết của thân vật lý.
Cơ thể cảm xúc (cơ thể năng lượng thứ hai): Đây là cơ thể có quan hệ chặt chẽ với cảm xúc tự nhiên của con người. Cơ thể này bám sát đường nét của thân vật lý, nhưng không sao chép rõ ràng như với cơ thể ête. Nó hiện ra như một đám mây ở trạng thái lỏng liên tục chuyển động. Cơ thể này có màu thay đổi từ sáng chói đến xám xịt tuỳ theo trạng thái cảm xúc. Nó vượt ra quá mặt da 2,54-7,62 cm.
Trong thuyết tâm linh, cơ thể cảm xúc được gọi là thể vía. Người ta gán cho nó 3 chức năng chủ yếu: nơi sinh ra cảm xúc, cầu nối giữa thể chất và tinh thần, công cụ độc lập về tư duy và hành động. Các cảm xúc phát sinh từ thể vía ở dạng năng lượng, chúng có thể là sợ hãi, căm ghét, giận dữ và bạo hành. Nếu một người bị đình trệ tại cơ thể cảm xúc thì ít có điều kiện để biến đổi năng lượng tiêu cực thành dạng tích cực tương ứng.
Một phần thể vía và các cơ thể năng lượng sẽ được mô tả tiếp theo vẫn tiếp tục tồn tại sau cái chết của thân vật lý.
Cơ thể tâm thần (cơ thể năng lượng thứ ba): Cơ thể này có quan hệ với các quá trình trí tuệ. Nó thường hiện ra như một khối sáng màu vàng chói lọi, bức xạ quanh đầu, vai và bao bọc toàn bộ thân vật lý. Nó lan rộng và rực rỡ hơn khi ai đó tập trung vào các quá trình tâm thần.
Như trên đã nói, cơ thể tâm thần là một cơ thể năng lượng có cấu trúc. Nó chứa đựng cấu trúc các ý niệm của con người. Bằng thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy các hình thái tư tưởng trong cơ thể này ở dạng những đốm sáng với hình thù thay đổi. Cơ thể tâm thần vượt qua cơ thể cảm xúc và ra quá mặt da khoảng 7,62 - 20,32 cm.
Trong thuyết tâm linh, cơ thể tâm thần được gọi là thể trí. Mối quan hệ giữa thể trí và bộ não con người được trung chuyển qua thể vía. Về cơ bản, những gì liên quan đến suy nghĩ và hoài nghi đều diễn ra ở thể này. Nếu được biến đổi thì suy nghĩ sẽ trở thành sáng tỏ trực tiếp (thấu suốt), còn hoài nghi sẽ trở thành tin cậy.
Cơ thể tinh tú (cơ thể năng lượng thứ tư): Cơ thể tinh tú không có hình dạng nhất định, gồm các đám mây màu sặc sỡ hơn so với cơ thể cảm xúc. Đây là cơ thể có vai trò trung gian giữa ba cơ thể năng lượng đầu (liên quan đến thế giới thể chất) và ba cơ thể năng lượng sau nó (liên quan đến thế giới tâm linh). Cơ thể tinh tú kết hợp với luân xa 4 (luân xa tim) là nơi cải biến năng lượng từ thể chất qua tâm linh và ngược lại. Nó vượt ra quá mặt da 15,24 - 30,48 cm.
Trong thuyết tâm linh, cơ thể tinh tú được gọi là thể tâm lý. Đây là thể có tiềm năng lớn và chứa nhiều bí ẩn về tâm lý. Các chất có chứa cồn như rượu và bia rất dễ tác động tiêu cực lên thể này. Phẩm chất tự nhiên của thể tâm lý là mơ mộng và tưởng tượng. Thể tâm lý ở động vật ít phát triển nên chúng hầu như không có ý niệm về quá khứ và tương lai. Nếu thể này được phát triển một cách phù hợp thì sẽ làm cho mơ mộng trở thành linh ảnh (thấy sự vật của thế giới năng lượng), còn tưởng tượng - trực cảm.
Cơ thể ête mẫu (cơ thể năng lượng thứ năm): Cơ thể này là hình thái mẫu âm bản cho cơ thể ête vốn là khuôn dạng của thân vật lý. Nói cách khác, cơ thể ête có nguồn gốc cấu trúc từ cơ thể ête mẫu. Bằng thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy cơ thể này gồm những hình thái trên nền xanh thẫm như một sơ đồ kiến trúc âm bản. Cơ thể ête mẫu vượt ra quá mặt da khoảng 15,24 - 60,96 cm, trông giống như hình trái xoan hơi thuôn.
Trong thuyết tâm linh, cơ thể ête mẫu được gọi là thể tâm linh. Từ thể này có thể thu được câu trả lời cho câu hỏi “tôi là ai?” và chấm dứt mọi vấn đề xung khắc nội tâm thường hiện hữu ở một cá nhân. Nó là thể đầu tiên mà tại đó con người cảm thấy niềm vui vô song. Một người khi làm chủ thể tâm linh sẽ loại bỏ được hoàn toàn vô thức, tức là sự nhận biết của cá nhân không bị đình trệ ngay cả trong giấc ngủ. Người đó chính là vị Phật, người tỉnh thức trong mọi thời khắc của đời sống.
Cơ thể thượng giới (cơ thể năng lượng thứ sáu): Mọi cảm xúc tâm linh diễn ra tại cơ thể thượng giới. Nếu ai đó có luân xa 6 (luân xa thượng giới) và luân xa 5 (luân xa tim) được khai mở và liên kết với nhau thì tình yêu thương vô điều kiện sẽ tuôn chảy, sẽ cảm thấy bản thân và vũ trụ hoà nhập làm một.
Dưới thị giác đặc biệt, cơ thể thượng giới hiện ra trong ánh sáng lung linh rất đẹp, có các tia màu vàng bạc và trắng sữa như mặt xà cừ. Hình thái của nó ít xác định hơn so với cơ thể ête mẫu, dường như nó là ánh sáng được bức xạ từ thân vật lý. Cơ thể thượng giới vượt ra quá mặt da khoảng 60,96 - 81,28 cm.
Trong thuyết tâm linh, cơ thể thượng giới được gọi là thể vũ trụ. Qua thể này con người có thể cảm nhận chân lý vũ trụ - tính toàn bộ của sự tồn tại.
Cơ thể nhân quả (cơ thể năng lượng thứ bảy): Khi quan sát cơ thể này bằng thị giác đặc biệt sẽ thấy ánh sáng óng vàng lung linh rung động rất nhanh, giống như vô số sợi tơ. Nó có hình dạng quả trứng với một lớp “vỏ” dày khoảng 6,4 - 12,7 mm. Tất cả các luân xa và các dạng thể chất đều hiện ra ở đây như được làm bằng ánh sáng óng vàng. Cơ thể này vượt ra quá mặt da khoảng 91,44 - 106,68 cm tuỳ thuộc vào từng người.
Cơ thể nhân quả cũng chứa dòng năng lượng chủ yếu lên xuống dọc theo cột sống, đó là nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho tất cả các cơ thể năng lượng.
Các biểu hiện tâm thần thuộc thế giới tâm linh diễn ra ở cơ thể này. Sau khi làm chủ được thể tâm linh và thể vũ trụ, một vị Phật có thể đưa ý thức tiếp xúc với cơ thể này. Lý do để gán tên “nhân quả” cho nó là ở chỗ, phía trong lớp vỏ có tồn tại các dải năng lượng tiền kiếp đã được ghi nhận phù hợp với luật nhân quả.
Trong thuyết tâm linh, cơ thể nhân quả được gọi là thể niết bàn. Người ta cho rằng, không thể dùng lời để mô tả trực tiếp được thể này. Từ “niết bàn” ở đây gần với các nghĩa trống rỗng, chân không, phi tồn tại. Nếu con người đưa ý thức vào thể này thì sẽ chuyển từ sự cảm nhận tồn tại sang trạng thái hầu như phi tồn tại, rỗng không.
Ngoài 7 cơ thể năng lượng kể trên, bà Brennan còn nhìn thấy các cơ thể năng lượng thứ tám và thứ chín. Mỗi cơ thể đó kết hợp tương ứng với luân xa 8 và luân xa 9 ở phía trên đầu. Chúng hiện ra trong suốt như pha lê và gồm những thành phần rung động rất tinh tế. Hai cơ thể đó có vẻ như theo khuôn mẫu chung và xen nhau giữa chất liệu (cơ thể thứ tám) hoặc hình thái (cơ thể thứ chín). Cơ thể thứ tám hiện ra ở dạng tựa chất lỏng, còn cơ thể thứ chín trông như một hình mẫu pha lê của mọi cái chứa trong những cơ thể năng lượng dưới nó.
Theo quan sát của những người có thị giác đặc biệt thì ngoại trừ cơ thể ête, một phần của các cơ thể năng lượng khác vẫn tiếp tục tồn tại và liên kết với nhau thành sinh thể năng lượng sau cái chết của thân vật lý. Điều này cho đến nay vẫn chưa được giới khoa học xác nhận. Đáng chú ý là tất cả các cơ thể của con người đều liên thông với một chiều thực tại nhất định.
Mặc dù các nhà huyền môn không nói đến hệ thống các cơ thể năng lượng của con người, nhưng truyền thống của họ trên khắp thế giới qua 5000 năm vẫn phù hợp với những quan sát mà các nhà khoa học bắt đầu tiến hành gần đây.
Một trong những thách thức đặt ra khi mong muốn khảo sát hệ thống các cơ thể năng lượng của sinh vật nói chung và của con người nói riêng là các thiết bị kỹ thuật hiện đại chưa thể phát huy tác dụng. Xét đến cùng, hệ thống các cơ thể con người là một cỗ máy đa chiều thực tại với những giác quan có thể được khai mở để hoạt động tại bất kỳ bình diện vật chất nào. Điều này đã được nhiều người chứng nghiệm. Rõ ràng, tất cả các thiết bị kỹ thuật mà chúng ta hiện nay sáng chế ra hầu như chỉ thích hợp cho chiều thực tại vật lý. Có lẽ đó là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự bế tắc trong việc nghiên cứu thực nghiệm về thế giới tâm linh.
Mô hình tâm linh về con người
Tiếp theo chúng ta sẽ xét một mô hình tâm linh về con người phù hợp với thuyết vũ trụ đa chiều. Nghịch lý gần gũi và bí ẩn nhất hiện nay là chúng ta vẫn còn rất mơ hồ về bản thể đích thực của chính mình. Đó là vấn đề có ý nghĩa triết học và có vai trò rất thiết thực đối với xã hội nói chung cũng như mỗi cá nhân nói riêng. Ở đây sẽ đề cập đến một cách tiếp cận có nguồn gốc sâu xa từ thời cổ xưa để tìm hiểu cấu trúc tâm linh của con người. Chúng ta có thể dễ dàng hiểu được mô hình này nếu xuất phát từ các khía cạnh cấu trúc năng lượng của con người.
Mô hình tâm linh về con người bao gồm 3 yếu tố cấu thành là thân vật lý, tâm trí và tâm thức.
Thân vật lý: Mỗi cá nhân đều dễ dàng nhận biết được thân vật lý của mình. Đó là phần hữu hình của con người. Nó được hình thành và phát triển chủ yếu dựa trên các điều kiện sinh học của bình diện vật lý. Thân vật lý đảm nhận vai trò cơ học đối với mọi hoạt động sinh tồn của mỗi người từ lúc phôi thai cho đến khi kết thúc cuộc đời. Thân vật lý con người là hoàn toàn mới cho mỗi lần sinh thành và nó được tạo theo một khuôn dạng nhất định nhờ cơ chế di truyền từ bố mẹ. Tuổi thọ của thân vật lý phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện sống và cách thức hoạt động của mỗi người, nó có thể kéo dài hơn 100 năm.
Nếu con người tự đồng nhất mình với thân vật lý thì nó sẽ trở thành “chủ” và thường xuyên đòi hỏi được thoả mãn hàng loạt nhu cầu có hại hoặc không cần thiết. Điều này là nguyên nhân đầu tiên làm cho cuộc sống con người dễ rơi vào “bể khổ” triền miên.
Tâm trí: Yếu tố này bao gồm các tiến trình nhận biết như tư duy, lưu thông các ý nghĩ, cảm xúc, tưởng tượng, mơ mộng... Tâm trí dựa trên một cơ chế đặc biệt hiện hữu trong con người với các khả năng thu nhận, lưu trữ, biến đổi, tìm kiếm và xử lý thông tin mà kết quả dễ biến thành hành động. Mỗi cá nhân có thể nhận biết tâm trí mình qua bộ não. Biểu hiện rõ rệt và nổi bật nhất của tâm trí con người là sự phát sinh liên tục luồng ý nghĩ hỗn tạp. Điều đặc biệt đáng chú ý là phần lớn thời gian tâm trí tồn tại trong vô ý thức và nắm giữ vai trò quyết định đối với nhiều hành vi và hoạt động của mỗi người. Khi ai đó trở nên có ý thức đối với luồng ý nghĩ của mình thì sẽ hết sức kinh ngạc và bàng hoàng về những gì mà tâm trí tạo ra đang không ngừng xuất hiện bên trong.
Cần lưu ý rằng, tâm trí của mỗi người không phải do thân vật lý tạo ra. Nó phát sinh từ các cơ thể năng lượng và thường xuyên gây tác động điều khiển sự hoạt động của thân vật lý. Theo các đại sư thì tâm trí là cũ, nó tiếp nối từ những lần sinh thành quá khứ của các thân vật lý khác. Điều này là một trong những luận điểm tâm linh sâu sắc gây tranh cãi từ hàng ngàn năm nay. Hai yếu tố thân vật lý và tâm trí có quan hệ với nhau một cách hoà hợp mà thời điểm khởi đầu diễn ra vào lúc thụ thai. Tâm trí của người bình thường vẫn tiếp tục tồn tại và hoạt động sau cái chết của thân vật lý. Với một số cá nhân có mức phát triển tâm linh vượt trội, thân vật lý và tâm trí sẽ chấm dứt tồn tại đồng thời.
Khi con người tự đồng nhất mình với thân vật lý cùng tâm trí thì sẽ dẫn đến rất nhiều nỗi khổ và phiền não trong cuộc sống. Người ta thường nói đến ba chất độc chính của tâm trí là tham lam, giận dữ và mê muội (tham, sân, si). Chúng có thể được biến đổi thành những thứ hữu ích cho đời theo công thức: tham lam ® chia sẻ, giận dữ ® từ bi, mê muội ® ý thức. Làm chủ tâm trí hay siêu việt lên trên nó là mục tiêu cốt lõi của việc rèn luyện tâm linh.
Tâm trí không phải là một vật mà là một luồng, nó thay đổi vào mọi thời điểm. Xét về khía cạnh tâm linh, một trong những điều dễ nhận thấy là tâm trí luôn thoát ly khỏi các sự vật đang xảy ra “ở đây và bây giờ”, tức là nó luôn lan man vào quá khứ hoặc mơ mộng ở tương lai. Ngoài ra, tâm trí luôn thu nhận và phản ánh mọi sự vật với độ sai lệch đáng kể (tuỳ thuộc tâm trạng chủ quan và trình độ nhận thức của mỗi người) và mang tính nhị nguyên (phân chia sự vật thành 2 mức, ví dụ như đẹp và xấu, cao và thấp, yêu và ghét, sáng và tối, trong và ngoài, nhiều và ít, hay và dở, hơn và kém...). Cái bóng của tâm trí là bản ngã - tổ hợp những điều riêng tư về ký ức, chuỗi sự kiện, việc xảy ra, ý kiến, dư luận v.v... Chính bản ngã làm cho mỗi cá nhân phân biệt mình với mọi người xung quanh và tách mình khỏi cái tổng thể tồn tại. Đó là nguyên nhân nền tảng gây nên “bể khổ” trong cuộc sống của con người.
Tâm thức: Yếu tố tâm thức hay “linh hồn” đóng vai trò đặc biệt đối với mỗi cá nhân. Nó dường như bị ẩn kín mặc dù hiện hữu khắp mọi nơi và là phần cốt lõi nhất của con người. Các đại sư từ xưa đến nay đều coi yếu tố này là “chủ”, còn thân vật lý và tâm trí chỉ là những công cụ tinh xảo và tiện dụng.
Một số người đôi khi gộp hai yếu tố tâm trí và tâm thức với nhau thành một thể thống nhất, rồi gọi nó là yếu tố “linh hồn”. Cách tiếp cận như vậy thường gây ra sự nhầm lẫn đáng tiếc trong việc phân tích các khía cạnh tâm linh khi tìm hiểu bản thể của con người.
Một trong những câu hỏi cổ đại và lý thú thường được đặt ra là: “Linh hồn” con người có bất biến và tồn tại vĩnh hằng không? Chúng ta sẽ tìm lời giải đáp cho vấn đề này.
Như trên đã nhấn mạnh, hệ thống các cơ thể con người chịu sự tác động của “sóng tâm thức”. Do đó, ở con người phát sinh thuộc tính nhận biết qua các biểu hiện cảm xúc và trí tuệ. Cũng như máy thu hình tương tác với một ít sóng truyền hình để hiển thị hình ảnh, hệ thống các cơ thể của con người cũng phải tương tác với một ít “sóng tâm thức” để sinh ra sự nhận biết. Phần sóng đó chính là yếu tố tâm thức hay “linh hồn” trong mô hình nói trên. Rõ ràng, yếu tố tâm thức của mỗi người mang tính tương đối, thay đổi theo không - thời gian và có thể không xác định nếu tất cả các cơ thể con người bị phân rã. Nói cách khác, “linh hồn” của mỗi cá nhân không phải là một yếu tố bất biến và vĩnh hằng cho dù bình diện tâm thức là bất biến và vĩnh hằng.
Rất khó mô tả yếu tố tâm thức một cách trực tiếp. Trong thuyết tâm linh người ta thường đưa ra nhiều hình ảnh biểu dụ để gián tiếp nói về yếu tố này. Nó được ví như một tấm gương xoay tròn, sạch bong và không khiếm khuyết với khả năng phản chiếu trung thực thế giới xung quanh. Nó được coi là bầu trời trong vắt bên trong con người. Nó được nhìn nhận như một không gian thuần khiết mà không gì có thể để lại tỳ vết... Khác với yếu tố tâm thức, tâm trí con người là kết quả thể hiện của hệ thống các cơ thể với một số thuộc tính giống như camera hiển thị và thu giữ dấu vết của các sự vật xuất hiện xung quanh. Dĩ nhiên, độ trung thực của “cảnh vật” ghi nhận được phụ thuộc vào chất lượng của “công cụ” tâm trí đó.
Trái lại, tâm thức không phải là một phẩm chất mà là một yếu tố vật chất tinh tế của con người. Yếu tố này cũng hiện hữu cùng với bất kỳ cá thể sinh vật nào. Nói cách khác, mọi cá thể sinh vật đều có “linh hồn” với bản chất hoàn toàn giống nhau. Sự khác biệt về trí tuệ và tình cảm giữa loài sinh vật này với loài sinh vật khác là do mức độ phức tạp của hệ thống các cơ thể của chúng. Như vậy, bình diện tâm thức đóng vai trò bản thể của con người và mọi sinh vật khác. Đây là kết luận có ý nghĩa nền tảng.
Việc coi yếu tố này hay yếu tố khác là thực chất của con người chỉ mang tính tương đối và có thể lựa chọn tuỳ ý. Nhưng vì sao yếu tố tâm thức cần được coi là “chủ”? Câu trả lời cho vấn đề này được diễn giải như sau. Không có ý nghĩa gì nếu đồng nhất con người với cả ba yếu tố trên vì sớm muộn thì yếu tố tâm thức sẽ bị hai yếu tố đầu che lấp. Rõ ràng, hai yếu tố thân vật lý và tâm trí phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố tâm thức. Nhờ đó mà con người có trí tuệ và cảm xúc ở mức độ cao. Nhưng kinh nghiệm từ xa xưa đến nay đã cho thấy rằng: con người từ kiếp này qua kiếp khác đều sống trong “bể khổ” do rất nhiều nguyên nhân như nghèo đói, bệnh tật, chiến tranh, thiên tai, già yếu... và tất cả đều hoảng sợ trước cái chết tất yếu của thân vật lý. Nếu coi một trong hai yếu tố đầu hoặc cả hai là thực chất của con người thì mỗi cá nhân phải chịu đựng sự đau khổ một cách trực tiếp trước những thảm cảnh xảy ra.
Còn đối với yếu tố tâm thức thì hoàn toàn khác. Ngoài hiệu ứng tạo ra “nhận biết” cho thân vật lý và tâm trí, yếu tố tâm thức nói riêng và bình diện tâm thức nói chung cũng thể hiện vai trò độc lập là “chứng kiến” (quan sát) mọi sự vật trong các bình diện vật chất có cấu trúc. Ở đây cần hiểu từ “chứng kiến” theo nghĩa được gán cho nó. Khác với tâm trí, tâm thức “chứng kiến” mọi sự vật xảy ra một cách trung thực như soi qua một cái gương thuần khiết. Đáng tiếc là trong thực tế, sự hoạt động của tâm trí diễn ra như một nguồn nhiễu cản trở tâm thức “chứng kiến”, cho nên hiện thực mà con người tiếp nhận hàng ngày luôn bị bóp méo. Do đó, khi chấp nhận yếu tố tâm thức là thực chất thì con người có thể đạt đến trạng thái luôn “chứng kiến” mọi sự vật, kể cả “chứng kiến” mọi biểu hiện của thân vật lý và tâm trí. Trong trường hợp đó, một số khổ đau của thân vật lý và tâm trí có thể vẫn còn ở mức này hay mức khác, nhưng được con người cảm nhận một cách gián tiếp qua yếu tố tâm thức. Thậm chí, con người - tâm thức còn có thể “chứng kiến” cái chết của thân vật lý. Dĩ nhiên, con người - tâm thức không lo sợ đến cái chết của mình vì nó là một phần của bình diện tâm thức vốn tồn tại vĩnh hằng.
Khi yếu tố tâm thức trở thành “chủ” thì cuộc sống của con người sẽ có các thay đổi căn bản. Những người đạt được mục tiêu đó chính là các vị Phật. Họ là những cá nhân đã trải qua tu luyện tâm linh có kết quả.
Như vậy, vai trò làm chủ của tâm thức thể hiện ở chỗ làm cho con người luôn ở trạng thái “chứng kiến” trước mọi sự vật xảy ra, kể cả với thân vật lý và tâm trí của người đó. Trong trường hợp này sự hoạt động của thân vật lý và tâm trí không còn diễn ra một cách vô ý thức. Hai yếu tố đó sẽ trở thành các công cụ bị điều khiển bởi một trực giác hoàn hảo phát sinh từ tâm thức. Con người với yếu tố tâm thức là “chủ” luôn có tâm trí tĩnh lặng và thân vật lý an bình, nên có thể tiếp nhận mọi sự vật xung quanh như chúng vốn là (loại bỏ sự can thiệp tự động của thân vật lý và tâm trí).
Bằng phương pháp thực nghiệm nào có thể kiểm tra được tính đúng đắn của mô hình tâm linh về con người? Các đại sư cho rằng, chỉ có con đường tu luyện tâm linh để mỗi cá nhân tự mình chứng nghiệm. Dường như các loại máy móc tinh vi nhất đều vô hiệu trong vấn đề thực nghiệm này. Tất cả các vị Phật từ xưa đến nay đều coi tâm thức là thực chất của con người nhưng dù họ có nói điều này ra thì cũng ít người tin. Mối quan hệ lẫn lộn chủ - tớ giữa ba yếu tố thân vật lý, tâm trí và tâm thức là một bi hài kịch tự nhiên vĩ đại nhất mà tạo hoá đã sinh ra.
Vì sao yếu tố tâm thức bỏ quên vai trò “chủ” của mình? Thực nghiệm và lý thuyết cho thấy rằng: điều kiện cần và đủ để yếu tố tâm thức của một cá nhân trở thành “chủ” là người đó không có bản ngã. Nói cách khác, vai trò “chủ” của tâm thức thể hiện ở một cá nhân khi và chỉ khi người đó là “không ai cả”. Đó chính là điều kiện chứng ngộ vô ngã (thành Phật) - hạt nhân của luận thuyết cơ sở mà các đại sư từ xưa đến nay theo đuổi trên con đường tu luyện tâm linh. Việc phát sinh bản ngã ở con người trong quá trình sống lâu dài đã làm mất dần vai trò chủ của yếu tố tâm thức và tạo ra vị thế mới cho thân vật lý cùng tâm trí. Ngược lại, khi có nhu cầu khôi phục lại vai trò chủ của yếu tố tâm thức thì các phương sách nhất định sẽ được áp dụng để loại bỏ bản ngã.
Cũng cần lưu ý rằng, từ những điều trình bày trên đây có thể suy ra nhận xét sau: không thể chế tạo được bất kỳ dạng rôbơt điện tử thông minh nào với khả năng cảm xúc và trí tuệ tương tự như con người.
Vũ trụ là một tổng thể sống?
Vũ trụ tổng thể hay cái Một phải chăng là một thực thể sống? Câu hỏi này đã phát sinh từ hàng ngàn năm trước đây. Để có câu trả lời cần mở rộng mô hình tâm linh về con người cho vũ trụ. Mô hình như vậy cũng bao gồm ba yếu tố.
Thân vũ trụ: Toàn bộ vật chất hữu hình (bình diện vật lý) đóng vai trò thân vũ trụ. Như trong phần 3 đã chỉ ra, quá trình hình thành sự sống mang tính phổ quát nên tại nhiều hành tinh trong vũ trụ rất có thể cũng có các dạng sinh vật phát triển như trên bề mặt Trái Đất. Nhìn một cách bao quát sẽ thấy rằng, thân vũ trụ có biểu hiện như một tập hợp thống nhất của mọi bộ phận vật lý (cơ thể vật lý) mà thời điểm ra đời có thể là ứng với khoảnh khắc phát sinh Vụ nổ lớn. Như vậy, thân vũ trụ đã được sinh ra khoảng 13,7 tỷ năm trước, nó đang trong thời kỳ “trưởng thành” và đến một lúc nào đó chắc chắn sẽ tan rã (chết).
Tâm trí vũ trụ: Rất có thể, hệ thống toàn bộ các bình diện vật chất đang tạo nên một phẩm chất nhận biết về trí tuệ và cảm xúc ở quy mô vũ trụ. Đó chính là tâm trí vũ trụ. Các nhà tâm linh vẫn tin rằng, cái Một cảm nhận được bản thân và có một mức độ nhất định về trí tuệ.
Tâm thức vũ trụ: Bình diện tâm thức đóng vai trò linh hồn vũ trụ. Tất cả các sự vật có cấu trúc của vũ trụ đều chịu tác động của “sóng tâm thức” và hợp nhất với nhau thành một tổng thể vô hạn. Như vậy, xét theo mô hình tâm linh thì vũ trụ và con người tương đồng nhau. Sự khác biệt giữa hai đối tượng này chỉ ở quy mô của các yếu tố cấu thành. Hoàn toàn có lý khi nói rằng, con người là một “tiểu vũ trụ” hay con người là mô hình thu nhỏ của vũ trụ.
Nếu vũ trụ là một tổng thể sống thì cơ chế tâm trí của nó được vận hành. Cái bóng của tâm trí vũ trụ được gọi là đại ngã. Vũ trụ với đại ngã như vậy có cảm nhận đau khổ như con người với tiểu ngã hay không? Câu trả lời có lẽ là “không”, bởi vì vũ trụ là vô hạn.
___________________________________
(1) Theo các nhà nghiên cứu và thực hành tâm linh, mọi người đều tiềm ẩn con mắt thứ ba ở tại vị trí điểm giữa hai chân lông mày. Do bẩm sinh, ngẫu nhiên hay tập luyện, một cá nhân có thể khai mở thị giác đặc biệt (thấu thị).
(2) Bà Barbara Ann Brennan là nhà khoa học, nhà tâm lý trị liệu, nhà thực hành chữa trị tâm linh rất nổi tiếng ở Hoa Kỳ. Sự hiểu biết sâu rộng trong lĩnh vực cấu trúc năng lượng của con người và các kết quả chữa trị thành công kỳ diệu của bà đã được mô tả một cách tỷ mỷ, có hệ thống trong cuốn Hands of Light (Bàn tay ánh sáng), xuất bản tại New York năm 1988.
[Xem Phần thứ năm]